Xuân thu Chiến quốc (52) Thương Ưởng đã mắc phải những sai lầm nào?

Tác giả: Thiên Phong | Cập nhật: 08/05/2024
Danh mục: Huyền Sử

Kết cục của Thương Ưởng là tự làm tự chịu, tự “đào hố chôn mình”. Sự hà khắc tàn bạo của ông nhất thời có thể khiến Tần quốc “nước giàu binh mạnh”, nhưng vì ông lạm sát vô cớ, hành sự trái đạo nên cuối cùng gặp đại họa.

Vì pháp luật Thương Ưởng chế định quá hà khắc, nên khi tháo chạy, ông không tìm được chỗ trú chân. Vì Thương Ưởng lừa mưu đoạt Tây Hà nên đắc tội với nước Ngụy, nên không được dung nạp ở nơi đó. Vì Thương Ưởng tính mưu phản nên bị diệt cả gia tộc. Thương Ưởng liên tục nhận phải những báo ứng do tội lỗi mà mình đã gây ra. 

Một người sống trên đời, điều quan trọng không phải là làm việc, mà là làm người. Thương Ưởng làm người rất sai lầm, điều này thể hiện ở bốn phương diện sau.

Điểm đầu tiên, Thương Ưởng rất ngang bướng cố chấp, tự cho mình là đúng. Ông không nghe những lời khuyên ngăn từ người khác, kể cả những lời nói từ tận đáy lòng của Triệu Lương. Tần Hiếu công lâm bệnh qua đời, Thái tử là người kế vị, mà trước đây ông đã đắc tội với Thái tử, đáng ra ông nên lo lắng về điều đó. Nhưng ông lại bình chân như vại, không biết tai họa sắp giáng xuống, lại còn tham luyến phú quý ở đất Thương. Ông ngang bướng, không nghe bất cứ lời khuyên nào. Đây là chỗ thất bại thứ nhất của ông.

Thứ hai, Thương Ưởng làm việc không để lại đường lui. Đã biết Thái tử sẽ nối ngôi, tại sao lại đắc tội với người ở đẳng cấp như thế, bắt hai người thầy của Thái tử chịu hình phạt, một người bị cắt mũi, còn người kia bị thích chữ lên mặt? Thương Ưởng không suy nghĩ đến hậu quả, làm việc không để lại đường lui. Đây là điểm thứ hai. 

Thứ ba, chúng ta phát hiện rằng Thương Ưởng không có bạn bè. Lúc ông bị xử tử, không có ai nói điều tốt về ông. Bách tính nước Tần hễ nghe lệnh bắt Thương Ưởng, thì họ đều hăng hái lùng sục để bắt ông. Trong “Chiến Quốc Sách” có ghi rằng: “Thương quân bị bắt về, Huệ công dùng xe cho ngũ mã phanh thây, mà dân Tần không ai thương tiếc”. Bách tính nước Tần không có ai thương tiếc ông, bởi vì ông đã biến mỗi người dân thành kẻ ngốc, để bóc lột, để nô dịch họ.

Thứ tư, trong mắt Thương Ưởng chỉ có công danh chứ không có đạo đức. Ông không hiểu giữa công danh và đạo đức là có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ông chiếm được Tây Hà, Bách Lý Hề cũng chiếm được Tây Hà, nhưng cách thức hai người dùng là khác nhau. Thương Ưởng dùng mưu, lừa cả người bạn tốt của mình, còn Bách Lý Hề thì dùng vương đạo. Vậy thì vương đạo và bá đạo có gì khác nhau?

Chúng ta biết rằng, Nho gia giảng vương đạo. Lý tưởng xã hội của Nho gia là “nội Thánh ngoại vương”, bề ngoài một vị quân vương, còn nội tâm là một vị Thánh hiền. Ví như vua Nghiêu, Thuấn, Thành Thang, Chu Văn Vương, Chu Võ Vương… là những vị “nội Thánh ngoại vương” điển hình. Quyền lực chính trị và trình độ đạo đức của họ là thống nhất. Đây là tư tưởng xã hội của Nho gia. Điều này rất giống với “quân vương cũng là hiền triết”, tức là “triết nhân vương” được giảng bởi triết gia Socrates thời Hy Lạp cổ.

Trong tác “Lý tưởng quốc” của Plato có một đoạn đối thoại giữa Socrates và Glaucon. Socrates có nói: “Triết học gia trở thành quốc vương, hoặc là những nhân vật nghiêm túc truy cầu trí tuệ mà tôi gọi là quốc vương, hay người thống trị; quyền lực chính trị và trí tuệ của họ là hợp nhất. Đồng thời những người đó có thể tạo phúc cho dân chúng”. 

Cũng chính là nói, Socrates đề xướng thống nhất giữa quyền lực chính trị và trí tuệ. “Triết nhân vương” mà Socrates nói, không có ý nói triết gia trở thành quân vương, mà trong mắt Socrates, thì triết gia là người có trí tuệ lớn, có thể thấu tỏ quy luật vũ trụ, là người giải thích sâu sắc về những bí mật của thế giới.

Trong mắt của Socrates, những người bình thường trên thế giới chính là “người trong hang động”, chỉ có thể thấy được những điều bên trong hang động. Ví như có một cây đèn ở phía sau, thì những người này chỉ thấy được bóng ảnh nhảy động trên bức tường, chứ không biết được nguồn sáng để tạo ra bóng ảnh là từ nơi đâu. Họ cũng không biết thế giới bên ngoài hang động là như thế nào. Còn những triết gia là người vừa có thể thấy những gì trong hang, vừa có thể vượt ra khỏi giới hạn đó để thấy thế giới tự do bên ngoài, đem những điều bên ngoài đó nói cho những người trong hang.

Điều này rất giống với Nho giáo. Quân vương đồng thời cũng là Thánh nhân, lại dùng vương đạo để giáo hóa bách tính, đem một bộ quan niệm đạo đức truyền dạy cho những người bình thường, để những người phổ thông đó có cơ hội trở thành Thánh nhân.

Trước thời Xuân Thu, Tam Hoàng Ngũ Đế đều là người “nội Thánh ngoại vương”, do đó, phương thức trị quốc bằng đạo đức, lễ nghĩa của những vị đó rất được lòng người. Đến thời Xuân Thu, lễ băng nhạc hoại, đại đạo mờ dần, Trung Quốc tiến vào thời kỳ tận lực chinh phạt thiên hạ. Đến thời Chiến Quốc, giữa các quốc gia là thôn tính lẫn nhau, họ bỏ đạo đức sang một bên. Mỗi chư hầu đều muốn “nước giàu binh mạnh” để chiếm đoạt lân bang, cho nên lúc này tư tưởng của Pháp gia mới có đất dụng võ.

Thương Ưởng vì không hiểu sự khác nhau giữa vương đạo và bá đạo nên mới so sánh mình với Bách Lý Hề. Vậy Bách Lý Hề là ai, ông đã có những công trạng to lớn gì mà ngay cả Thương Ưởng cũng phải ngước nhìn, chúng tôi sẽ kể tiếp câu chuyện trong phần tiếp theo, cảm ơn bạn đã theo dõi video này, xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại.


Có thể bạn quan tâm:

Xuân thu Chiến quốc (46) Vây Ngụy cứu Triệu, trận tranh hùng đầu tiên của Tôn Tẫn và Bàng Quyên

Xuân thu Chiến quốc (46) Vây Ngụy cứu Triệu, trận tranh hùng đầu tiên của Tôn Tẫn và Bàng Quyên

Bình luận

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}