Xuân thu Chiến quốc (47) Tôn Tẫn và Bàng Quyên, đại kết cục huynh đệ tương tàn

Tác giả: Thiên Phong | Cập nhật: 08/05/2024
Danh mục: Huyền Sử

“Sử ký – Lục quốc niên biểu” có ghi lại một sự kiện vào năm 343 TCN. Trong năm này, Tề Uy vương băng hà. Sau khi ông mất, người con trai kế vị, chính là Tề Tuyên vương. Tề Tuyên vương biết Điền Kỵ bị oan nên đã gọi Điền Kỵ và Tôn Tẫn cùng về nước Tề. Sự việc này Bàng Quyên không biết. Bàng Quyên khi đó đang chuẩn bị cuộc chiến với nước Hàn. Vào năm 341 TCN, Bàng Quyên dẫn đại quân tấn công nước Hàn. Tình thế nước Hàn khi đó vô cùng nguy cấp. Thế là nước Hàn cầu cứu nước Tề.

Tề Tuyên vương thương lượng với các đại thần rằng: “Nước Hàn đến cầu cứu, chúng ta nên làm thế nào?”. 

Khi đó, trên buổi chầu có hai luồng ý kiến. Tướng quốc Trâu Kỵ nói: “Không cần cứu, để nước Ngụy và nước Hàn tự giải quyết với nhau, chúng ta không cần quản”. 

Nhưng Điền Kỵ thì nói: “Nếu chúng ta không cứu nước Hàn, thì nước Tề sau này sẽ bị nước Ngụy diệt thôi. Bởi vì nước Hàn tiếp giáp với nước Tề chúng ta, cho nên khi nước Ngụy công hạ được nước Hàn, mục tiêu kế tiếp của họ sẽ là nước Tề. Do đó chúng ta nên cứu nước Hàn”.

Tề Tuyên vương hỏi Tôn Tẫn rằng: “Rốt cuộc có nên cứu hay không?”. 

Tôn Tẫn đáp: “Cứu, là sai. Mà không cứu… cũng sai. Nếu hiện nay chúng ta cứu nước Hàn, chính là giống như ta đang can ngăn 2 người đánh nhau, làm không khéo, nước ta còn bị gộp chung với nước Hàn mà bị nước Ngụy diệt luôn một thể. Thêm vào đó, nếu chúng ta cứu Hàn, cũng tương đương với việc thay nước Hàn để đánh nước Ngụy. Như thể chẳng phải tự chuốc lấy họa sao? Đây là lý do vì sao cứu nước Hàn là sai lầm. Thế thì vì sao không cứu nước Hàn cũng là sai lầm? Bởi nếu nước Tề không cứu, hễ nước Ngụy thôn tính được nước Hàn, Ngụy quốc sẽ càng lớn mạnh, thì khi đó lại là uy hiếp cực lớn đối với nước Tề chúng ta. Do vậy, không cứu nước Hàn cũng là sai lầm”.

Tề Tuyên vương hỏi: “Vậy thì phải làm thế nào?”. 

Tôn Tẫn đáp: “Ý thần là để hai nước họ đánh nhau một chập, khi hai bên đều có thương vong, chúng ta sẽ đi cứu nước Hàn. Bởi vì nước Hàn sắp diệt vong mà chúng ta lại cứu họ, như thế họ sẽ rất cảm kích chúng ta. Còn binh sĩ nước Ngụy khi ấy cũng đã rất mỏi mệt, cho nên chúng ta đánh thắng Ngụy sẽ dễ dàng, hơn nữa, tổn thất bên ta cũng không lớn”.

Tôn Tẫn phân tích rất chuẩn, các quan đại thần đều khâm phục. Thế là Tề Tuyên vương đồng ý với chủ trương của Tôn Tẫn, ông truyền lệnh đến nước Hàn rằng: “Nước Tề sẽ nhanh chóng phái binh đến cứu, mong nước Hàn có thể chống cự quân Ngụy một thời gian”. 

Nước Hàn cho rằng quân Tề sẽ đến rất nhanh, nên cũng ra sức chống cự, đợi đến lúc được cứu. Kết quả là quân đội cả Hàn và Ngụy đều tổn thất. Nước Hàn đánh với nước Ngụy năm trận đều thua cả năm, bởi vì Bàng Quyên dùng binh rất giỏi. Lúc nước Hàn sắp đến bờ diệt vong, thì nước Tề mới bắt đầu xuất binh.

Sau khi xuất binh, Tôn Tẫn lại dùng kế dựa trên ý tưởng “vây Ngụy cứu Triệu”. Tôn Tẫn nói: “Hiện tại chúng ta sẽ không đi cứu nước Hàn, mà là trực tiếp tấn công đô thành Đại Lương của nước Ngụy”. 

Thế là đại quân của nước Tề đi đến Đại Lương, là đô thành của Ngụy. Đại Lương hiện nay thuộc thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Tin tức Tôn Tẫn sẽ tấn công Đại Lương nhanh chóng đến được tai Bàng Quyên. Bàng Quyên lúc đó rất tức giận, bởi vì ông sắp hạ được nước Hàn, lại nghe ở nước Ngụy phát sinh sự việc như vậy. Bàng Quyên biết đây chính là mưu kế của Tôn Tẫn, biết rõ là mưu kế nhưng vẫn phải bước vào, đây gọi Dương mưu. Không còn cách nào khác, Bàng Quyên bèn lui binh về cứu nước Ngụy. Lúc này Tôn Tẫn lại dùng một kế sách rất thú vị, độc đáo. 

Khi Bàng Quyên dẫn quân quay về, ông không về đô thành nước Ngụy, mà nhắm thẳng tới cánh quân của nước Tề để truy kích, ông muốn một lần là đánh tan đại quân của Tề, tiêu diệt Tôn Tẫn.

Khi Bàng Quyên đuổi theo quân Tề, ông căn cứ theo số lượng bếp mà ước định số lượng binh sĩ nước Tề. Bởi vì mỗi lần quân Tề dừng chân hạ trại, họ sẽ phải nổi lửa nấu cơm, và sau khi rời đi thì sẽ để lại tàn tích.

Ngày thứ nhất, căn cứ theo số lượng bếp mà quân Tề để lại, Bàng Quyên ước đoán quân Tề có mười vạn. Ngày thứ hai, số lượng bếp giảm, Bàng Quyên dự đoán quân Tề còn lại năm vạn. Đến ngày thứ ba, ông dự đoán còn ba vạn. Bàng Quyên lúc đó đắc ý nói: “Ta biết quân Tề không dám đánh chúng ta, nên trong ba ngày mà quân lính đã đào thoát quá nửa”. 

Thế là Bàng Quyên bỏ bộ binh ở sau, mà chỉ dẫn theo kỵ binh, ngày đêm truy đuổi quân Tề. Vì khinh địch nên không cảnh giác, Bàng Quyên đã từ từ bị dẫn đến Mã Lăng đạo.

Mã Lăng đạo hiện nay ở gần huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Đường núi ở đây vô cùng gập ghềnh hiểm trở, hai bên đều là rừng cây, là một nơi lý tưởng để mai phục. Tôn Tẫn lệnh cho người chặt cây, sau khi chặt thì để chúng ngổn ngang giữa đường. Chỉ có một cây không chặt, Tôn Tẫn sai người lột vỏ, sau đó viết lên đó 8 chữ, tiếp theo ông để một vạn cung thủ mai phục trên núi. Tôn Tẫn nói với các cung thủ rằng: “Buổi tối hôm nay, khi thấy ánh lửa bên dưới, các ngươi hãy đồng loạt bắn tên xuống, vạn tên nhất tề bắn ra”.

Đêm đó, quả thật Bàng Quyên đã đến Mã Lăng đạo. Kỵ mã do thám phía trước về báo cáo rằng: “Đường đi bị những cây lớn chặn lại rồi”. Bàng Quyên nói: “Có thể là bọn chúng sợ, nên mới chặt cây làm chướng ngại. Chúng ta hãy dời cây để mở đường”. 

Thế là kỵ binh phải xuống ngựa đẻ dời cây. Bàng Quyên thấy hầu như cây nào cũng bị chặt, chỉ có một cây chưa đổ. Lúc đó đã là hoàng hôn, cái cây này bị lột vỏ nên có màu trắng, rất nổi bật, có chữ trên thân cây nhưng lại không thấy rõ. 

Bàng Quyên dẫn quân lại gần, bảo tả hữu đốt lửa để xem trên cây viết gì. Bàng Quyên tiến lại gần hơn và bắt đầu đọc từng chữ, trên thân cây viết rằng: “Bàng Quyên chết ở dưới gốc cây này”. Vì ánh lửa đã thắp lên ở Mã Lăng đạo, một vạn cung thủ mai phục phía trên ngay lập tức nhìn thấy điểm sáng, họ nhất tề bắn một loạt tên xuống vị trí có ánh lửa.

Bàng Quyên và quân binh xung quanh không kịp chạy khỏi mưa tên, từng người từng người ngã xuống. Khi đó Bàng Quyên bị tên găm đầy người, ông nằm đó thơ thẩn nhìn bầu trời.

Một lúc sau, Tôn Tẫn đến trước mặt Bàng Quyên. Bàng Quyên khi đó vẫn chưa chết, ông nói với Tôn Tẫn một câu thế này: “Ta hận năm đó không thể giết ngươi, để rồi hôm nay ngươi vang danh, còn ta nằm lại nơi sa trường”

Bàng Quyên nói xong liền lấy kiếm tự sát. 

Bàng Quyên là người phạm tội, nhưng vẫn còn ngoan cố đến phút cuối, ông không cho rằng mình sai, mà chỉ hận năm đó không giết được Tôn Tẫn.

Chúng ta xem xong câu chuyện “Tôn Bàng đấu trí” sẽ phát hiện, chính tâm đố kỵ của Bàng Quyên đã hại chết ông. Bàng Quyên biết Tôn Tẫn tài năng hơn mình, nên tìm đủ mọi cách để trừ khử, vì dã tâm quá lớn cộng với sự tức giận mất hết lý trí, nên đã bị Tôn Tẫn phục kích.

Còn về Tôn Tẫn, chúng ta thấy khi ông đến nước Tề, được Tề vương phong làm tướng quân, nhưng ông không nhận, vì cho rằng mình là người nhận hình phạt nên không thể làm chức cao như thế, đây là sự khiêm tốn của ông. Tiếp đến, Tôn Tẫn không giết Bàng Quyên, hơn nữa Tôn Tẫn còn bắt được cháu của Bàng Quyên là Bàng Thông, nhưng cũng không giết, đây là sự khoan dung, trung hậu của ông. Tôn Tẫn về lại nước Tề, ông lấy mười ba thiên “Tôn Tử binh pháp” giao lại cho Tề vương, đây là sự hào phóng của ông. Sau này, Tôn Tẫn cũng không nhận phong thưởng, ông cũng giống như tổ tiên Tôn Vũ, lui về sống ẩn dật và xem nhẹ danh lợi.

Xoay ngược vấn đề trở lại mà nói, nếu Bàng Quyên đối xử tốt với Tôn Tẫn thì có thể đắc được binh pháp không? Chắc chắn có thể, bởi vì Tôn Tẫn tính tình phúc hậu, hào phóng. Nếu Bàng Quyên cùng Tôn Tẫn chỉ huy quân đội nước Ngụy, thì khẳng định là “gió thổi cỏ rạp”, đánh đâu thắng đó, thậm chí là là sáu nước còn lại trong Chiến Quốc thất hùng cũng không phải đối thủ. Hai người đó mà hợp tác cùng nhau thì có thể thống nhất thiên hạ, tiếng thơm lưu truyền sử xanh. Khi đó, thống nhất Trung Nguyên có thể sẽ không phải là nước Tần nữa. Nhưng thực tế thì Bàng Quyên đã không theo chính đạo, hãm hại Tôn Tẫn, cho nên mất cả sinh mệnh, ô danh lưu truyền thiên cổ…

Liên quan đến Tôn Tẫn còn có một thắc mắc nữa, đó là: Tôn Tẫn có lưu lại binh pháp không? Trong “Sử ký” khẳng định là có, Tư Mã Quang viết như sau: “Cháu Tôn Tử là Tôn Tẫn, lấy binh pháp chỉnh lý rồi công bố”. Nhưng trong một thời gian rất dài, hậu thế không tìm thấy bộ binh pháp đó, mãi đến năm 1972, ở thành phố Lâm Nghi tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, người ta có khai quật những thẻ tre của thời nhà Hán, trong đó có “Tôn Tẫn binh pháp”, nhưng các thẻ tre phần lớn đều bị hư hại. 

Trận Mã Lăng đạo kết thúc, chứng kiến sự suy yếu của nước Ngụy. Nước Ngụy mất đi Bàng Quyên, thêm vào đó Thái tử Thân cũng bị bắt làm tù binh. Vì cứu được Hàn và Triệu nên nước Tề trở thành một quốc gia lớn mạnh ở phía đông Trung Nguyên. Nước Ngụy thua trận, Thương Ưởng đã nhân cơ hội lúc nước Ngụy suy yếu mà chiếm đoạt Tây Hà.

Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, hẹn gặp lại bạn trong những tập tiếp theo.


Có thể bạn quan tâm:

Bình luận

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}