Lưu Bị: Huynh đệ như thủ túc, thê tử như y phục

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 28/05/2025
Danh mục: Huyền Sử

Trong Tam quốc diễn nghĩa, Lưu Bị từng nói: “Huynh đệ như thủ túc, thê tử như y phục”. Có nghĩa là: Anh em như chân tay, vợ con như áo mặc. 

Bởi vì chân tay thì không thể tách rời, còn quần áo thì có thể thay thế rất dễ dàng. Vậy nên, rất nhiều người đã coi câu này là trọng nam khinh nữ, rằng Lưu Bị coi thường phụ nữ.

Điều này có đúng vậy không? Chúng ta hãy cùng nhau làm rõ trong video ngày hôm nay.

…

Kính thưa quý vị và các bạn, khi Lưu Bị đang trấn giữ Từ Châu thì nhận được chiếu chỉ, yêu cầu đi đánh Viên Thuật. Lưu Bị cùng Quan Vũ dẫn quân đi, để Trương Phi ở lại giữ thành Hạ Phì. 

Nhưng Trương Phi say rượu, đã đắc tội với Tào Báo, là cha vợ Lã Bố, nên bị Tào Báo và Lã Bố trong ứng ngoài hợp, lúc nửa đêm đã đánh úp lấy Từ Châu. Trương Phi thất thủ, vội dẫn vài chục kỵ binh phá vòng vây, rồi chạy thẳng đến Vu Thai để báo cho Lưu Bị, nói ra chuyện bị mất thành. 

“Các quan nghe chuyện, ai cũng choáng váng, duy Lưu Bị chỉ than có một câu:

– Ðược cũng chẳng nên mừng, mất cũng chẳng nên lo!

Quan Vũ hỏi:

– Thế còn các chị đâu?

Trương Phi nói:

– Bị hãm cả ở trong thành rồi.

Nghe xong, Lưu Bị nín lặng, chẳng nói được câu gì.

Quan Vũ tức giận, mới dậm chân mắng rằng:

– Khi trước ngươi đòi giữ thành, đã nói những câu gì? Huynh trưởng đã dặn ngươi như thế nào? Bây giờ thành thì mất, chị dâu lại bị vây hãm, thế ra làm sao?

Trương Phi nghe Quan Vũ mắng, sợ hãi không biết đường nào, liền rút ngay kiếm ra,  định tự vẫn”.

“Lưu Bị trông thấy vội vàng bước lên, giật lấy kiếm, ném xuống đất rồi nói:

– Có câu rằng: “Huynh đệ như chân tay, vợ con như áo mặc”. Áo rách còn dễ may, chân tay gãy, chắp sao được? Ba huynh đệ ta kết nghĩa vườn đào, đã thề cùng sống chết với nhau. Nay dù mất thành trì, mất vợ con đi nữa, sao nỡ để huynh đệ nửa đường chết đi cho đành. Huống chi, thành trì không phải của ta, vợ con ta bị hãm trong thành, nhưng ta chắc Lã Bố không nỡ giết, cũng còn nghĩ kế cứu được. Hiền đệ sai lầm một lúc, việc gì đã đến nỗi quyên sinh?

Lưu Bị nói xong, rơi nước mắt khóc. Quan, Trương cũng khóc cả”.

…

Vậy nên câu: “Anh em như chân tay, vợ con như áo mặc” – là câu nói mà người nghe dễ hiểu lầm là coi thường đàn bà con trẻ. Tuy nhiên, khi Lưu Bị nói câu này, ông hoàn toàn không có ý như vậy. Mục đích của Lưu Bị là để Trương Phi bớt gánh nặng, để Trương Phi không nghĩ đến chuyện tự vẫn nữa.

Vợ con là những người thân thiết nhất với một người đàn ông, đầu gối tay ấp, lẽ thường ai mà chẳng yêu chẳng quý. Kẻ phàm phu thậm chí vì tình cảm, nữ sắc, mà vong ân bội nghĩa, anh em không nhìn mặt nhau. Ví như Đổng Trác, Lã Bố, họ là nghĩa phụ tử, mà cuối cùng cũng quay ra hại nhau, chỉ vì tranh Điêu Thuyền. 

Khi Lưu Bị nói “Huynh đệ như thủ túc, thê tử như y phục” chỉ là muốn khẳng định rằng: làm người nên biết trọng nghĩa hơn tình, lấy đạo nghĩa làm trọng, chứ không nên hành xử hấp tấp chỉ vì tình cảm ích kỷ của bản thân. 

Thực tế, khi lầm lỡ khiến hai chị bị hãm trong thành, Trương Phi bị Quan Công mắng như vậy, ông đã lập tức muốn tự sát. Vì Trương Phi biết rằng chị dâu quan trọng với đại huynh nhường nào. Không cần Lưu Bị phải nhắc lại, Trương Phi đã khổ não vì lỗi do mình gây ra. Lúc này, câu nói “Huynh đệ như thủ túc, thê tử như y phục” giúp bày tỏ sự trân trọng quý mến của Lưu Bị với Trương Phi, để Trương Phi bớt dằn vặt khổ tâm, và bỏ đi cái suy nghĩ tự vẫn.

Vậy nên, một số câu nói của người xưa cần được hiểu trong bối cảnh cụ thể, không nên dựa vào ngữ nghĩa bề mặt để phán xét cổ nhân. Ví dụ câu: “Cái nết đánh chết cái đẹp”, câu này không hề có ý nói rằng hình thức đẹp đẽ là vô dụng, không cần thiết. Chính là vì lẽ thường người ta, ai cũng “yêu bằng mắt”, chuộng hình thức, nên mới cần nói ra câu này để nhắc nhở người đời về tầm quan trọng của đức hạnh. Thực tế, cổ nhân coi trọng lễ nghĩa, nên cả cái nết và cái đẹp đều phải cần. Từ đạo đức đến diện mạo, trang phục, lễ nghi, đều phải cẩn thận giữ gìn.

Tương tự như thế, câu “Anh em như chân tay, vợ con như áo mặc” cũng không hề có ý coi thường phụ nữ, mà chỉ muốn nhắc nhở thế nhân hãy biết coi trọng đạo nghĩa, quý trọng tình huynh đệ. Một người quân tử trọng đạo nghĩa thì tự biết che chở, có trách nhiệm với thê tử của mình. Ví như Tống Hoằng làm quan dưới thời Hán Quang Vũ đế, ông được hoàng đế ngỏ lời gả công chúa Hồ Dương; danh lợi đều được. Thế mà Tống Hoằng đã từ chối, vì “bạn thuở hàn vi là không thể quên, người vợ tào khang là không thể bỏ”.

Về câu chuyện của ba anh em Lưu, Quan, Trương: Lưu Bị coi trọng hai em như vậy, Quan Vũ, Trương Phi cũng hết lòng tôn kính, bảo vệ thê tử của ông. Khi Quan Công bại trận trước quân Tào, ông vốn chẳng coi cái chết là gì, nhưng sẵn sàng nhẫn chịu ở lại Tào doanh, vì lời phó thác của Lưu Bị là bảo vệ hai chị dâu. Như trong thư gửi Huyền Đức, ông viết:

“Khi trước giữ thành Hạ Phì, trong không có thóc chứa, ngoài chẳng có viện binh, đã toan liều chết, nhưng vì có trọng trách đối với hai chị, nên không dám quyên sinh để phụ lòng uỷ thác của huynh trưởng, cho nên còn tạm nương náu đây, mong có ngày cùng nhau tụ hội”.

Vậy nếu như một số người nói rằng: Nho gia trọng nam khinh nữ. Thì Quan Vũ đâu phải liều mạng để bảo vệ phu nhân của Lưu Bị như thế. Sau khi Quan Vũ, đầu hàng Tào Tháo, “Ông dẫn quân vào thành, thấy nhân dân yên ổn cả, vội vào phủ ngay, vào yết kiến hai chị. Cam, My, hai phu nhân nghe Quan Công đã về, vội ra đón vào. Quan Công lạy ở dưới thềm, nói:

– Đã để cho hai chị sợ hãi, ấy là tội của em.

Hai phu nhân hỏi:

– Hoàng thúc bây giờ ở đâu?

Quan Công nói:

– Không biết ở đâu.

Hai phu nhân lại hỏi:

– Bây giờ chú định thế nào.

Quan Công nói:

– Em ra thành đánh nhau, bị vây ở trên núi, Trương Liêu khuyên em ra hàng, em có ước định ba điều, Tào Tháo đồng ý cả ba, nên mới rút quân, để em vào thành. Em chưa được biết ý định của hai chị, chưa dám tự tiện”.

Vậy nếu Quan Vũ mà mà trọng nam khinh nữ, liệu có thể nói những lời cung kính như vậy với hai chị dâu được hay không.

Sau khi Quan Vũ đầu hàng, “Tào Tháo mở tiệc yến khoản đãi. Hôm sau thì rút quân về Hứa Xương. Quan Công thu xếp, mời hai chị lên xe, rồi tự mình đi hộ vệ. Khi đi đường, khi nghỉ ở xá, Tào Tháo muốn làm rối loạn lễ vua tôi, nên đã để Quan Công và hai chị dâu cùng ở một nhà. Nhưng Quan Công cầm đuốc đứng hầu ngoài cửa, đứng từ tối đến sáng, sắc mặt không lúc nào có dáng mỏi mệt. Tào Tháo thấy thế lại càng kính phục”.

Một người em kết nghĩa biết kính trọng chị dâu của mình như thế, thử hỏi có thứ “y phục” nào mà được như vậy chăng? Ý tứ sâu xa của người xưa quả là không thể vội vã luận bàn.

…

Trong Tam quốc diễn nghĩa, Lưu Bị là hình tượng người quân tử nhân nghĩa, thực lòng yêu thương anh em, tướng sĩ, nhân dân. Khi bị Tào Tháo tấn công ở Kinh Châu, Lưu Bị cần rút lui gấp, nhưng ông vẫn không nỡ bỏ lại những người dân đã đi theo ông. Tập Tạc Xỉ chép:

“Tiên Chủ tuy điên đảo gian nan mà tín nghĩa càng sáng tỏ, tình thế bức bách, hành sự hung hiểm mà lời nói chẳng lỗi đạo. Nhớ ân nghĩa của Cảnh Thăng, cái tình cảm động ba quân; mến yêu nghĩa khí của kẻ sĩ, mà cam lòng cùng chịu thất bại. Xét cái nguyên nhân thu được lòng người, há chỉ vì đồng cam cộng khổ với quân dân, vỗ về người già yếu mà thôi đâu! Sau này làm nên đại nghiệp, chẳng phải là lý đương nhiên sao!”

Trong trận Đương Dương, quân Tào truy sát tới nơi, các tướng của Lưu Bị đều khuyên ông tạm thời bỏ người dân lại, đi trước cho nhanh, nhưng Lưu Bị vẫn không nghe. Người đời sau có thơ khen lòng nhân ái của Lưu Bị đã làm lòng dân hướng về ông như sau:

 “Lâm nạn lòng nhân lo bách tính

 Lên thuyền rơi lệ cảm ba quân

 Bến nước sông Tương còn thương xót,

 Phụ lão năm xưa nhớ Sứ quân”.

Chúng ta thử nghĩ mà xem, một vị chủ công yêu thương bách tính như vậy, há lại không yêu thương vợ con của mình hay sao. Khi Triệu Tử Long một mình một ngựa xông pha trong vạn quân Tào để cứu A Đẩu, nhìn Tử Long trở về trong “máu đỏ chan hòa áo giáp hồng”, Lưu Bị đã “đỡ lấy A Đẩu, rồi thả xuống đất rồi nói: Vì ngươi mà suýt nữa ta mất một viên đại tướng!”. Ấy đâu phải vì Lưu Bị coi con trẻ như “y phục”, mà chỉ vì thương yêu tướng sĩ đó thôi!

Người sau có thơ rằng:

 “Hổ thiêng vùng vẫy trong quân Tháo,

 Rồng nhỏ nằm tròn bọc Tử Long.

 Trung ấy lấy gì yên ủi được,

 Ném con thu lấy bụng anh hùng”.

Tam quốc diễn nghĩa tái hiện lại một thời đại phi thường trong lịch sử Trung Quốc, quần anh tụ hội, ba nước tranh hùng với biết bao biến cố, được mất, thành bại ấy chỉ để diễn dịch một chữ “Nghĩa”. Bề tôi có cái nghĩa trung quân báo quốc, phu thê có cái nghĩa đồng cam cộng khổ, huynh đệ có cái nghĩa cốt nhục trung trinh… bấy nhiêu nhân vật sẵn sàng xả thân vì nghĩa, thật khiến người đời sau bái phục.

Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, hẹn gặp lại bạn trong những tập tiếp theo.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Huyền Sử

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>