Vào thời Xuân Thu, ở nước Lỗ có một thanh niên tên là Vĩ Sinh, anh ta hẹn gặp với một cô gái ở dưới chân cầu. Nhưng khi đến giờ hẹn, cô gái không tới. Lúc này nước sông dâng cao, nhưng Vĩnh Sinh vẫn quyết tâm giữ chữ tín, giữ lời hứa với nàng. Vĩ Sinh ôm chặt chân cột dưới cầu mà không chịu rời đi, cuối cùng anh đã chết đuối.
Điển cố này rất nổi tiếng trong lịch sử, được ghi trong sách “Trang Tử”, sau đó còn được viết trong Sử ký. Vĩnh Sinh được người đời trong các thời đại ca tụng, là khuôn mẫu Đạo Đức trong việc giữ chữ tín.
Thế nhưng, nếu phân tích một cách tỉnh táo và kỹ lưỡng, bạn sẽ thấy thực ra Vĩnh Sinh là người theo đuổi chữ Tín một cách quá cực đoan, trở thành kẻ mất hết Đức hạnh.
Theo tiêu chuẩn của người xưa, nam nữ độc thân mà dám lén hẹn gặp nhau dưới gầm cầu, đây là việc không đúng lễ, vi phạm vào Lễ.
Đã đến giờ hẹn, nhưng cô gái vẫn không tới. Vậy có thể do nguyên nhân đặc thù hoặc đã gặp phải chuyện cần xử lý mà không thể tới.
Vĩ Sinh cứ như vậy ôm cột mà chết đuối, tất nhiên anh ta không thất tín, nhưng anh ta có nghĩ cho cô gái kia không?
Vĩ Sinh đã làm cô gái rơi vào tình huống bội tín bội nghĩa, vô tình vô nghĩa, hại đến mạng người. Cả quãng đời còn lại, cô gái sẽ phải sống ra sao đây. Người xưa rất coi trọng quan hệ làng xóm, thân tộc. Khi mọi người xung quanh đều coi cô gái là kẻ bội tín, hại chết mạng người, cô gái có thể phải sống dưới ánh nhìn đó suốt phần đời còn lại.
Vĩ Sinh chỉ cố chấp vào chữ Tín của mình, mà không chú ý tới người khác, không thể nghĩ đến người khác, không có lòng khoan thứ bao dung, vi phạm Đức nhân từ, khoan thứ. Vậy nên anh ta là kẻ bất nhân bất nghĩa.
Nước sông dâng nhanh, nhưng Vĩ Sinh hoàn toàn có thể ra khỏi gầm cầu, đi lên trên cầu, hoặc tránh sang nơi cao gần đó. Tức là vẫn có thể đứng gần cây cầu, giữ mình không bị ngập, lại có thể giữ được chữ Tín. Nhưng tại sao anh ta cứ nhất quyết phải ở dưới chân cầu để rồi chết đuối. Như vậy có phải là ngu muội lắm không! Trong Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Vĩnh Sinh đã giữ được Tín, nhưng lại mất đi Trí.
Một số văn nhân đời sau ca ngợi Vĩnh Sinh là đã xả thân vì nghĩa.
Thế nhưng, việc xả thân tử vì Đạo là một Đức hạnh to lớn phi thường. Nhưng phải trân quý sinh mệnh, tuyệt đối không thể coi rẻ sinh mệnh, chết như vậy có đáng không?
Nếu chết vì Đại Đạo, vì quốc gia, vì hạnh phúc của chúng sinh mà chết, thì cái chết có ý nghĩa, cái chết ấy mới thật là vĩ đại. Nhưng Vĩ Sinh chỉ vì cô gái sai hẹn mà cố chấp tìm chết, cái chết thật tầm thường và hèn hạ. Con người sinh ra giữa trời đất, phải trân trọng sự an bài của trời đất Thần linh. Thân thể tóc da là do cha mẹ ban cho, không được làm tổn hại. Cha mẹ của Vĩnh Sinh nếu thấy con như vầy, họ rồi sẽ ra sao đây. Vĩnh Sinh đã phạm tội bất hiếu.
Thế nên, Vĩnh Sinh đã cố chấp làm theo chữ Tín một cách cực đoan, và đã làm tổn hại chỉnh thể của Đức hạnh, xa rời Đại Đạo.
Trong Ngũ thường của Nho gia là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, chúng cũng có sự tương sinh, tương khắc. Có gì đó giống như Ngũ hành. Vậy nên cần duy trì cân bằng tổng thể, không rời xa Đạo.
Khi Trung và Hiếu không thể lưỡng toàn, lúc này nên chọn theo Đại Đạo, bỏ Tiểu Đạo. Tức là giữ lấy lòng Trung mà bỏ Hiếu. Còn khi quân vương làm việc trái với Thiên Đạo, thì nhất thiết phải bảo vệ Thiên Đạo và bỏ lòng Trung. Đây chính là tuân theo nguyên tắc Đại Đạo vi tông.
Trong sách Liệt Tử có ghi lại câu chuyện Ngu Công dời núi. Chúng tôi sẽ kể lại theo cách sinh động và việt hóa hơn.
Ngày xưa có một ông lão tên là Ngu Công. Trước cửa nhà ông có hai ngọn núi rất lớn, đó là ngọn núi thuộc Thái Hành Sơn và Vương Ốc Sơn. Hai ngọn núi này chắn hết đường đi, mỗi lần ra ngoài, cả nhà Ngu Công phải vòng rất xa, vô cùng bất tiện.
Một hôm, Ngu Công họp cả gia đình lại và nói:
“Hai ngọn núi trước thật cản đường, chi bằng cả nhà chúng ta ra sức, san bằng hai ngọn núi này, mở đường thông thẳng đến phía nam Dự Châu và bờ nam sông Hàn Thuỷ. Mọi người thấy thế nào?”
Thế là con cháu trai tráng trong nhà đều đồng ý,
Nhưng vợ của ông thì lại dội cho một gáo nước lạnh, bà nói:
“Tôi thấy với sức lực của ông, ngay cả ngọn núi nhỏ xíu như Khôi Phụ còn chẳng làm gì được. Thế mà lại đòi đọ sức với Thái Hành và Vương Ốc? Bao nhiêu đất đá như vậy ông định đổ đi đâu cho hết?”
Khi vợ Ngu Công nói xong, cả nhà lập tức xôn xao bàn luận. Sau cùng họ quyết định đổ đá xuống biển Bột Hải, chuyển đất lên phía Bắc.
Ngu Công chọn ra ba thanh niên khoẻ mạnh, dẫn họ đi đào đất đục đá, sau đó lại chở đất đá đến bờ biển Bột Hải. Láng giềng của ông là một bà góa, có đứa con trai mới bảy, tám tuổi, nghe nói Ngu Công muốn dời núi thì cũng xông xáo tham gia. Họ làm việc miệt mài, chăm chỉ.
Thấy Ngu Công và những người khác cắm đầu làm việc, Trí Tẩu thấy thật nực cười nên buông lời nhạo báng rằng:
“Ông đúng là không biết tự lượng sức, cứ muốn chuốc khổ vào thân. Ông đã chừng này tuổi rồi, tuổi cao sức yếu. Ngay cả một cọng cỏ trên núi còn chẳng nhổ được, làm sao có thể dời núi?”
Ngu Công cười đáp: “Suy nghĩ của ông sao mà hạn hẹp thế. Dù tôi sắp chết, nhưng tôi còn có con trai, con trai tôi chết, còn có cháu, con cháu đời đời truyền cho nhau, vô cùng vô tận. Còn hai ngọn núi này cũng không cao không lớn thêm được, tôi hà cớ gì phải lo lắng chuyện không dọn nổi chúng đi chứ?”
Trí Tẩu nghe vậy như bị mắc nghẹn, không nói thêm được lời nào.
Thần Núi đã tâu chuyện này lên Thiên Đình. Thiên Đế nghe chuyện, cảm động trước nghị lực phi thường của Ngu Công, bèn lệnh hai người con trai Khoa và Nga, mỗi người cõng một ngọn núi trên lưng. Một ngọn dời sang phía Đông của Sóc Phương, một ngọn dời đến phía nam Vĩnh Châu. Kể từ đó, phần phía nam của Ký Châu, và bờ nam của sông Hàn Thuỷ không còn bị hai ngọn núi cao chặn lối nữa.
Thực ra, câu chuyện này không phải để khen về nghị lực của con người. Mà thực ra là để chê một số người cố chấp, nông cạn. Bạn thấy đó, nhân vật chính trong chuyện là Ngu Công. Chữ “ngu” trong “ngu dốt”. Người khuyên can tên là Trí Tẩu, chữ “trí” trong “trí giả”, tức là thông minh.
Khi làm bất cứ việc gì, chúng ta cũng không thể cố chấp khăng khăng làm đến tận cùng. Nếu thấy việc không hợp lý, không thỏa đáng, thì nên dừng.
Ngu Công đã có một hành động cuồng vọng, là muốn san bằng hai ngọn núi lớn. Nếu chỉ vì hai ngọn núi chắn đường, thì chỉ cần chuyển nhà là được rồi, sao cứ phải dời núi? Có cách giải quyết đơn giản, tại sao không làm.
Đầu tiên, Ngu Công làm vậy là vi phạm Đạo tự nhiên, ông đã phá hoại môi trường sinh thái. Ngu Công vì tư lợi mà cuồng vọng muốn dời núi lấp biển, ngạo mạn trước tự nhiên cao rộng. Sau này, Trung Cộng cũng phá hoại tự nhiên, còn lấy khẩu hiệu là “cải tạo tự nhiên”, dẫn đến đất Thần Châu rộng lớn thương tích khắp mình, môi trường hủy hoại trong chốc lát.
Mao Trạch Đông nói: “Đấu với trời, đấu với đất, đấu với người – vui vô cùng”. Một số người còn nói: Đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên. Nhưng thực sự có thể làm được không, đó chỉ là sự vô tri và cuồng vọng. Người phương Tây còn nói “không gì là không thể” – Nothing impossible. Câu này cũng thể hiện sự cuồng vọng không biên giới.
Ngu Công chỉ vì cái lợi của mình mà làm hại con cháu muôn đời. Ngu Công dời núi khi tuổi đã cao, nên ông đã lệnh con cháu khuân vác gian khổ lao lực, lại còn hại cả trẻ con hàng xóm. Dời chuyển đất đá của hai ngọn núi Thái Hàng, Vương Ốc đem lấp biển Bột Hải, một năm chỉ được một lượt đi về. Khi người khác có lòng tốt khuyên ngăn, nhưng ông vẫn chấp mê bất ngộ. Còn nói rằng sẽ quyết làm đến chết, không dời được núi, nhưng sẽ lệnh cho con cháu muôn đời về sau dời tiếp. Con cháu thì vô cùng vô tận, chỉ cần không đoạn tử tuyệt tôn, thì sẽ có ngày núi kia san phẳng. Cũng may là Ngu Công chỉ làm hại con cháu của ông ta, người như vậy mà làm quân vương, thì có khi ông ta sẽ hô vang khẩu hiệu “không gì là không thể”, rồi sẽ bắt dân chúng cả nước đi đào núi, sẽ tàn hại bách tính.
Liệt Tử nói, tinh thần cố chấp của Ngu Công đã làm cảm động Thần linh, Thần đã giúp Ngu Công dời hai ngọn núi sang nơi khác.
Lão Tử viết “Đại Trí nhược ngu”. Tức là người đại tài thì trông vẻ ngoài đần độn. Có lẽ Liệt Tử muốn biểu đạt ý này, nhưng tầng thứ không đủ, không lý giải được nghĩa thực sự của Đạo, nên đã đi lệch đường.
Nếu Ngu Công mang đức hạnh kiên trì này mà tạo phúc cho chúng sinh, thì mới là xuất sắc. Nếu Ngu Công không dời núi lấp biển, mà đi làm đường, thuận theo thế núi, kết hợp thiên nhiên, làm một con đường để thuận tiện cho dân chúng mưu sinh, lại giải quyết được vấn đề của mình, đạt được sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người, thì có lẽ đức hạnh này sẽ có thể đạt đến hoàn mỹ, xuất hiện thần tích, thành tựu đại Đức.
Sau này, khi Lưu Bang tiến vào đất Hán, ông đã phải đi qua Sạn đạo. Đó là con đường mà người xưa làm, bằng cách đóng gỗ vào vách núi, rồi đặt ván lên trên để đi. Thật khâm phục trước tài năng của họ. Đó chính là xây đường qua núi.
Bài viết có tham khảo nội dung từ:
1. https://chanhkien.org/2023/01/dai-dao-tri-quoc-12-guong-soi-dao-duc.html
2. https://www.epochtimesviet.com/cau-chuyen-thanh-ngu-ngu-cong-doi-nui_339974.html
