Khi Thương Ưởng tiến hành biến pháp, ông đã gặp phải sự phản đối dữ dội từ giới quý tộc, trong đó có cả thái tử. Cách giải quyết của Thương Ưởng rất cứng rắn – đó là đáp trả thẳng tay. Vì thái tử là người thừa kế ngôi vương, nên không thể trừng phạt được, Thương Ưởng liền xử phạt hai thầy dạy của thái tử: một người tên là Công Tử Kiền, một người tên là Công Tôn Giả.
Khi mới bắt đầu thực thi biến pháp, rất nhiều người dân đến than phiền với Thương Ưởng rằng luật pháp mới khiến họ gặp đủ thứ bất tiện, chỗ này không ổn, chỗ kia không hay. Nhưng cũng có một nhóm người thấy luật mới cũng tốt, họ cũng kéo đến để khen ngợi Thương Ưởng.
Đối với nhóm người chê và người khen, Thương Ưởng đều xử lý giống nhau: tất cả đều bị đày ra biên ải.
Tức là ngay cả người khen biến pháp, cũng sẽ bị Thương Ưởng cho đày ra biên ải. Thương Ưởng đã gửi đi một tín hiệu rất rõ ràng: Luật pháp quốc gia do ta định ra, chỉ cần ta nghĩ, các ngươi không cần nghĩ. Khi ngươi nói ta tốt hay xấu, nghĩa là ngươi vẫn còn có phán đoán riêng — mà dân thường thì không được phép như vậy. Nhiệm vụ của ngươi chỉ là làm theo, không phải bàn luận.
Trong Sử ký, có chép Thương Ưởng nói rằng: “Những kẻ này đều là hạng dân làm loạn phép trị.”
Thương Ưởng cho rằng dân mà dám suy nghĩ, mỗi người một ý, thì sẽ khiến quốc gia rối loạn. Vì thế, cho đày tất cả bọn họ ra biên giới. Kể từ đó, người dân không ai còn dám bàn luận về pháp lệnh nữa, dù là khen hay chê cũng không dám nữa.
Sau đó, Thương Ưởng lại dùng giết chóc để lập uy. Sách Tư trị thông giám chép rằng: “Ban đầu, khi Thương Quân làm tướng nước Tần, thi hành pháp luật cực kỳ nghiêm khắc. Có lần ông ra bờ sông Vị Thủy tra xét phạm nhân, giết xong thì ném xác xuống sông, khiến nước sông Vị Thủy đỏ rực.”
Để răn đe thiên hạ, Thương Ưởng đã đem tội nhân ra hành quyết hàng loạt ngay bên bờ sông. Tại sao phải chém ở bờ sông, đó là để máu chảy nhuộm đỏ cả dòng sông. Toàn bộ những người dân khác đều nhìn thấy màu đỏ, và ngửi thấy mùi máu tanh trong không khí. Điều này tạo nên sự sợ hãi cực độ, từ đó không ai còn dám cãi lệnh nữa. Cho dù lệnh có đúng hay sai, họ cũng sợ mà không dám chống lệnh.
Nhờ những việc như dời khúc gỗ để chứng minh pháp lệnh đáng tin, giết người lập uy”, trừng phạt cả người khen và người chê biến pháp, Thương Ưởng đã dựng nên hình tượng một thiết huyết tể tướng trong lòng người dân nước Tần.
Về sau, Thương Ưởng tiến hành lần biến pháp thứ hai, với nội dung còn sâu rộng hơn.
Thương Ưởng cho dời đô thành nước Tần từ đất Ủng đến Hàm Dương. Xây dựng đô thành với quy mô cực lớn.
Sau đó, Thương ưởng ban lệnh cấm cha con, anh em sống chung một nhà. Trước cải cách, người dân nước Tần thường sống trong đại gia đình: ba, bốn thế hệ cùng ở chung, làm việc chung, ăn uống chung, giúp đỡ lẫn nhau. Khi ai đó gặp khó khăn, luôn có cha mẹ, anh em, họ hàng giúp đỡ. Truyền thống hiếu, nghĩa, được nuôi dưỡng tự nhiên trong môi trường đó.
Nhưng sau lệnh của Thương Ưởng: Mỗi người đàn ông trưởng thành phải tách riêng làm hộ độc lập, tự chịu trách nhiệm nộp thuế, đi lính, và tự nuôi thân. Họ không còn sự đùm bọc thường nhật. Ngay cả cha và con cũng ít khi được gặp nhau — trừ khi cùng làm việc ngoài đồng hoặc trong quân ngũ.
Kết quả là mối quan hệ thân tộc dần bị làm yếu đi.
Nhưng đổi lại, người dân buộc phải lao động chăm chỉ hơn trước rất nhiều để có thể nuôi sống bản thân. Của cải làm ra rất nhiều, tiền thuế cũng nộp rất nhiều, Tần vương nhanh chóng có rất nhiều của cải.
Tiếp đó, Thương Ưởng cho bãi bỏ chế độ tỉnh điền, mở rộng ruộng tư. Thống nhất hệ thống đo lường, nhiều điều sau này được gán cho Tần Thủy Hoàng, thực ra từ thời Thương Ưởng đã bắt đầu làm.
Ngoài ra, Thương Ưởng còn cho bãi bỏ một phần các khu vực đất phong, thiết lập chế độ quận huyện. Tiến hành đốt sách cũ để xóa bỏ tư tưởng cũ.
Bốn năm sau khi tân pháp được ban hành, công tử Kiền (người từng bị phạt trước kia) lại lên tiếng chỉ trích rằng pháp luật mới không hợp lòng dân — Thương Ưởng liền cho cắt mũi ông ta để làm gương. Quả thật, cách hành xử của Thương Ưởng là vô cùng tàn khốc.
Nhưng chính nhờ vậy, nước Tần dưới sự trị lý của ông mà ngày càng hùng mạnh. Sau đó, Thương Ưởng lại tiến thêm một bước — dùng mưu kế để chiếm lấy vùng Tây Hà.
Phía tây sông Hoàng Hà có một vùng gọi là Tây Hà — nghĩa là “phía tây của Hoàng Hà”. Khu vực này gồm tám tòa thành, lúc bấy giờ thuộc về nước Ngụy, do danh tướng Ngô Khởi năm xưa đánh chiếm được.
Nước Tần khi đó ở vào thế rất khó khăn. Từ khi mất tám thành ở phía tây sông Hoàng Hà, nước Tần không còn dòng sông làm biên giới phòng thủ tự nhiên để ngăn cách với nước Ngụy nữa. Vì thế, Tần Hiếu Công vẫn luôn canh cánh trong lòng, mong ngóng chiếm lại vùng Tây Hà này.
Thương Ưởng biết vậy, nên đã xung phong cầm quân xuất chinh. Ngụy vương biết tin, liền phái Công tử Ngung dẫn quân ra chống. Thế nhưng, Thương Ưởng và Công tử Ngung vốn là bạn cũ khi cả hai còn ở nước Ngụy. Thương Ưởng viết thư cho bạn, nói rằng: “Xưa kia ta với huynh là chỗ thâm giao, nay mỗi người đều vì chủ mà phải ra trận, thật lòng ta cũng không nỡ. Chi bằng chúng ta tổ chức một buổi tiệc, cùng nhau uống rượu, nghe nhạc, ôn lại chuyện xưa rồi ai về nước nấy, không cần đánh nhau nữa. Ngàn năm sau, khi hậu nhân nói đến tình bạn chân thành, sẽ lấy ta và huynh làm tấm gương.”
Công tử Ngung tính tình chất phác, nên đã tin ngay, và nhận lời đến dự tiệc. Không ngờ trong bữa tiệc, Thương Ưởng cho người mai phục, lập tức bắt sống Công tử Ngung. Sau đó, Thương Ưởng cởi quân phục của lính Ngụy, cho quân Tần mặc vào giả dạng, rồi cho họ trở lại thành và báo rằng: “Công tử Ngung đã uống rượu xong, mọi việc đều ổn.” Quân Ngụy trong thành tưởng thật, lập tức mở cổng ra đón, và kết quả là quân Tần ồ ạt tràn vào, chiếm trọn tám thành của vùng Tây Hà.
Như vậy, Thương Ưởng đã dùng mưu kế lừa tướng địch mà đoạt lại toàn bộ vùng Tây Hà, khiến nước Tần từ đó khôi phục thế mạnh, củng cố biên giới phía tây.
Sau khi khải hoàn trở về, Thương Ưởng được Tần Hiếu Công trọng thưởng, ban cho ông mười lăm tòa thành ở vùng đất Thương. Từ đó, ông mới được gọi là “Thương Quân” — tên “Thương Ưởng” bắt nguồn từ đây.
Được phong hầu, Thương Ưởng vô cùng đắc ý, ông đã mở tiệc lớn để khoản đãi bá quan, trong lòng hân hoan, Thương Ưởng cao hứng nói: “Đại trượng phu trong đời, có thể đạt đến địa vị như ta hôm nay, thật là đã quá thành công rồi!”
Đúng lúc Thương Ưởng đang ngạo nghễ tự mãn, một người tên là Triệu Lương đứng dậy nói: “Ngàn kẻ nịnh hót chẳng bằng một người nói thật.”
Rồi Triệu Lương nói tiếp với Thương Ưởng một đoạn rất thẳng thắn. Trong “Sử ký” và “Đông Chu Liệt Quốc chí” đều có chép lại câu chuyện này, trong đó bản ghi trong “Đông Chu Liệt Quốc chí” kể ngắn gọn hơn.
Triệu Lương nói:
“Nay ngài làm tể tướng nước Tần đã tám năm, pháp lệnh tuy nghiêm minh, nhưng hình phạt lại quá tàn khốc. Dân thấy được uy mà không thấy được đức; Họ chỉ biết lợi, mà chẳng hiểu nghĩa. Thái tử hận ngài vì đã xử phạt thầy mình, hận đến tận xương tủy; trong dân gian, cha con, anh em đều hận ngài sâu sắc. Một khi Tần Hiếu Công băng hà, ngài sẽ chẳng khác nào giọt sương buổi sớm — mặt trời vừa lên là sương tan biến, vận may của ngài cũng sẽ chấm dứt”.
Triệu Lương tiếp tục khuyên:
“Bây giờ, tốt nhất là ngài hãy tìm một người có tài để thay ngài đảm trách việc nước. Còn ngài thì nên sớm lui về quê, giữ thái độ khiêm nhường, tốt nhất là để vị tân vương sau này không còn nhớ đến ngài nữa. Nếu may mắn, tân vương có lúc sẽ nhớ ra chuyện cũ, mà người được ngài tiến cử sẽ biết ơn ngài, nói giúp vài câu, thì chuyện cũ có thể được bỏ qua, ngài còn có cơ hội hưởng tuổi già an nhàn. Cho nên, điều ngài cần làm nhất bây giờ là hãy lập tức từ chức.”
Thương Ưởng nghe xong thì lặng thinh, không nói một lời, cũng không hứa hẹn gì. Có lẽ ông cũng hiểu được đạo lý mà Triệu Lương nói, có lẽ ông cũng biết điều đó là đúng. Thế nhưng hiện tại, Thương Ưởng đang có chức vị cao, có nhà cao cửa rộng, người hầu tấp nập, vinh hoa phú quý hưởng không hết. Nếu bảo Thương Ưởng bỏ hết những vinh hoa phú quý đó rồi từ quan về quê, thì ông không làm được.
Chỉ năm tháng sau đó, Tần Hiếu Công qua đời, thái tử lên ngôi — tức là Tần Huệ Văn Công. Tần Huệ Văn Công căm hận Thương Ưởng thấu xương, ngay lúc đó lại có người vu cáo Thương Ưởng mưu phản.
Họ tâu rằng: “Nay dân nước Tần khi nói đến pháp luật, họ không còn gọi là pháp luật của nước Tần nữa, mà gọi là pháp của Thương Quân. Một thần tử mà được như thế, quyền thế đã vượt quá giới hạn — nếu mai này hắn làm phản thì sao?”
Vốn dĩ Tần Huệ Văn Công đã rất căm ghét Thương Ưởng, nên khi nghe lời tố cáo liền ra lệnh cách chức ngay lập tức.
Lúc này Thương Ưởng vẫn không cảm thấy nguy hiểm, ông vẫn đặt tiệc đãi khách, sau đó chuẩn bị về đất Thương. Khi ông đãi khách lại sử dụng lễ nghi vương giả, điều này tương đương với việc lạm quyền.
Thế là ngay lập tức có người đứng ra tố cáo Thương Ưởng tội lạm quyền và có ý mưu phản, có bằng chứng rõ ràng. Tần Huệ Văn Công lập tức phái quân đi bắt. Người dân nghe được rằng có lệnh bắt Thương Ưởng, liền thi nhau nô nức kéo tới, tiếng hò reo vang trời.
Thương Ưởng nghe tiếng hò hét, tiếng đuổi giết vang trời, biết rằng quân vương đã hạ lệnh trả thù, liền vội cởi bỏ quan phục, mặc áo dân thường rồi chạy trốn.
Tối hôm ấy, ông chạy đến một quán trọ, muốn xin tá túc qua đêm.
Chủ quán hỏi:
“Ngài có giấy chứng nhận thân phận không?”
Thương Ưởng đáp:
“Không có.”
Chủ quán liền nói:
“Theo pháp của Thương Quân, ai chứa người không có giấy tờ đều phạm tội như nhau. Nếu ngài bị chém ngang lưng, tôi cũng bị chém ngang lưng! Tôi đâu biết ngài là ai, làm sao mà dám cho ngài ở lại đây?”
Nghe vậy, Thương Ưởng thở dài than rằng: “Than ôi! Ta bị pháp luật của ta làm hại rồi, thật là thảm hại làm sao!”
Từ đó, người đời có câu “tác pháp tự tệ” — nghĩa là “tự đặt ra luật rồi chết vì chính luật mình đặt”, đó bắt nguồn từ chính câu chuyện này.
Không còn nơi nương náu, Thương Ưởng bèn tính chuyện trốn sang nước Ngụy. Nhưng đó là một nước cờ sai lầm chí tử — vì ông vừa mới dùng mưu lừa Ngụy để chiếm tám thành ở Tây Hà, nên Ngụy vương cũng đang giận ông thấu xương. Vừa nghe tin Thương Ưởng có thể sẽ vượt biên, Ngụy vương lập tức cho quân canh giữ biên giới, muốn bắt sống Thương Ưởng.
Thương Ưởng thấy tình thế tuyệt vọng, đành phải quay lại đất phong của mình, rồi dùng tiền bạc để triệu tập binh mã. Chẳng bao lâu sau, đại quân nước Tần kéo đến, Thương Ưởng bị bắt sống. Tần Huệ Văn Vương hạ lệnh xử tử Thương Ưởng bằng hình phạt ngũ mã phanh thây, Thương Ưởng chết vô cùng thảm khốc.
