Đứa trẻ bơ vơ lạc mất mẹ, nay trở thành Trạng Nguyên, trải bao khó khăn để tìm về quê cũ

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 24/09/2025
Danh mục: Việt Sử

Chào mừng các bạn đến với kênh podcast của chúng tôi. Trong video này, chúng tôi xin kể câu chuyện của Phạm Đôn Lễ, và hành trình gian khổ của ông từ một cậu bé nghèo, lạc mất mẹ, cho đến khi ông trở thành trạng nguyên, với những đóng góp cho đất nước.

Kính thưa quý vị và các bạn, Phạm Đôn Lễ sinh năm 1457, ở làng Hải Triều, thuộc tổng Thanh Triều, phủ Long Hưng, huyện Ngự Thiên, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).

Ông sinh trưởng trong gia đình nghèo khó, bố là họ Phạm, làm nghề chài lưới, quê ở huyện Tứ Kỳ, mẹ là người làng Hải Triều, bà dựng túp lều tranh đơn sơ, làm quán bán nước cho khách qua đò. Khi ông còn rất nhỏ thì người bố qua đời, hai mẹ con đơn côi, sống dựa vào hàng quán.

Một lần nọ, hai mẹ con ông đi dạo trên bờ sông, thì Phạm Đôn Lễ bị lạc, người mẹ khóc hết nước mắt, đi tìm khắp nơi mà không được. Trong lúc lang thang vì lạc mẹ, thì Phạm Đôn Lễ được một gia đình giàu có đưa lên thuyền, đưa về nhà ở Thanh Hóa và nuôi dưỡng.

Đến tuổi đi học, bố nuôi cho Đôn Lễ cùng con trai của mình theo thầy học. Vốn thông minh, Đôn Lễ học một biết mười, dù phải vất vả giúp đỡ gia đình, nhưng nhưng Đôn Lễ vẫn học vượt trội hơn hết thảy chúng bạn. Thấy Đôn Lễ thông minh như vậy, thầy đồ rất quý mến, dốc lòng truyền thụ, tin rằng đứa bé này rồi nhất định sẽ làm nên nghiệp lớn.

Thời vua Lê Thánh Tông, nhà Lê rất xem trọng hiền sĩ, chú trọng khoa bảng, các khoa thi đều tìm được nhân tài, trở thành rường cột cho Giang Sơn Xã Tắc.

Đến năm 1481, Phạm Đôn Lễ tham dự khoa thi, trong các kỳ thi Hương, thi Hội, ông đều đỗ đầu. Sau đó, ông vào kinh, dự kỳ thi Đình, Phạm Đông Lễ đã đỗ Trạng Nguyên và trở thành Trạng nguyên Tam nguyên hiếm có trong lịch sử khoa bảng.

Sử liệu có chép rằng: “Vua ngự ở Ðiện kinh thiên, thảo ra văn sách, hỏi về lý số, Phạm Ðôn Lễ đều trả lời rành mạch, lời lẽ phóng đạt trôi chảy, vua cho đỗ Trạng nguyên.”

Sau khi vinh quy bái tổ, cha nuôi mới kể lại chuyện xưa cho Phạm Đôn Lễ, nói rằng ông chỉ là con nuôi, được gia đình nhận nuôi khi thấy lạc ở bờ sông Luộc.

Ký ức mơ hồ từ thủa nhỏ gợi về. Dù vừa đậu Trạng nguyên, nhưng Phạm Đôn Lễ không màng đến phần thưởng, cũng như quan chức của Triều đình, việc đầu tiên ông làm là đi tìm lại gia đình khi xưa.

Phạm Đôn Lễ lần tìm đến làng Hải Triều, tìm bên bờ sông Luộc khi xưa. Trải qua bao vất vả, ông đến bến đò Cà, thấy có quán nước cũ kỹ xiêu vẹo, nằm bên bờ sông, bèn định bụng vào hỏi thăm. Chủ quán là một bà cụ với mái tóc bạc phơ, bán nước cho khách bộ hành. Đôi mắt bà cụ ánh lên vẻ đượm buồn mà tang thương.

Trạng nguyên vào quán nước nghỉ chân, rồi lân la hỏi chuyện. Khi hỏi đến con cái thì bà cụ bật khóc. Trong tiếng nức nở, bà cụ đắng lòng kể về đứa con thất lạc khi mới lên 3 tuổi của mình. Mấy chục năm qua đi, bà vẫn hàng ngày bán nước nơi đây, với hy vọng mong manh rằng đứa con trai còn sống sẽ tìm về với mẹ.

Trạng nguyên nghe kể thì quặn lòng hỏi rằng: “Cụ còn nhớ con trai cụ có đặc điểm gì nổi bật không?”

Bà cụ già nói trong làn nước mắt: “Ở giữa gan bàn chân trái, chân con trai tôi có nốt ruồi đỏ như son.”

Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ nghe nói xong, thì đã đoán đây chính là mẹ ruột của mình rồi. Nhưng ông vẫn cố nén lòng, ông biết mình có nốt ruồi son ở bàn chân trái, nhưng không biết vị trí chính xác, liệu có giống đứa trẻ mà bà cụ đang nhắc đến không.

Thế rồi ông xin phép được nằm nhờ trên cái chõng tre, rồi ông cố ý gác chân, để lộ nốt ruồi đỏ ở gan bàn chân trái của mình ra.

Bà cụ nhìn thấy thì đột nhiên lại khóc, Trạng nguyên hỏi thì bà đáp rằng: “Tôi khóc vì nhìn thấy nốt ruồi ở gan bàn chân trái của quý khách, rất giống của con trai tôi ngày còn bé.”

Lúc này, Phạm Đôn Lễ liền đến ôm lấy người mẹ của mình, nói mình chính là đứa con đã thất lạc mấy chục năm trước đây.

Người mẹ vừa mừng vừa tủi, gặp lại đứa con trai sau hàng chục năm thất lạc, và bà cũng không ngờ rằng khi gặp lại, thì con đã là Trạng nguyên Tam Nguyên của Đại Việt. Sau vài năm sống hạnh phúc cùng con, người mẹ bình an qua đời.

Trong thời gian chịu tang mẹ, Phạm Đôn Lễ thấy dân làng Hải Triều có nghề dệt chiếu, nhưng chiếu làm ra không đẹp, khung dệt lại cao, lá chiếu không phẳng, ông vẫn luôn suy nghĩ tìm tòi để giúp dân làng.

Trở về Triều, Phạm Đôn Lễ làm quan đến chức Tả thị lang, rồi lên đến Thượng thư. Ông được cử đi sứ sang nhà Minh. Trên đường đi đến vùng Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), nhận thấy phong cảnh nơi đây hữu tình, đoàn sứ liền hơi chậm lại để thưởng lãm cảnh đẹp.

Tình cờ, Phạm Đôn Lễ nhận thấy người dân nơi đây cũng có nghề dệt chiếu, nhưng những chiếu được làm không chỉ nhanh hơn, mà còn đẹp và bền hơn. Qua quan sát, Phạm Đôn Lễ thấy rằng người dân nơi đây dùng kỹ thuật khác với kỹ thuật làm chiếu ở quê nhà, đặc biệt là nhờ có ngựa đỡ đay.

Sau khi hoàn thành việc đi sứ, lúc trở về, khi đi qua Quế Lâm, Phạm Đôn Lễ mua bàn dệt chiếu rồi mang về làng Hới, ông gọi người phường dệt đến tháo ra nghiên cứu, để làm bàn dệt, nhưng họ đều than khó quá và bỏ cuộc. Phạm Đôn Lễ đành tự nghiên cứu.

Nhờ tư chất thông minh, ông nắm bắt được kỹ thuật dệt. Đồng thời, ông còn cải tiến, đưa khung dệt chiếu thấp xuống, lại làm thêm ngựa đỡ đay ở trên khung, giúp cho sợi dây thêm căng, đồng thời dùng nêm tre để nêm, chèn ở phần cuối khung chiếu, giúp cho sợi đay trên khung không bị chùng xuống. Cải tiến xong khung dệt, Phạm Đôn Lễ truyền dạy cho dân chúng, từ đó chiếu của làng Hới vừa đẹp, vừa phẳng.

Không chỉ vậy, Phạm Đôn Lễ còn dạy người dân cách dệt chiếu đậu từ cỏ cói. Chiếu đậu của ông vừa bền, vừa đẹp, lại không bị mốc, lại tinh xảo, thưởng dùng đến 5 – 7 năm mới phải thay. Người dân yêu quý mà gọi ông là Trạng Chiếu.

…

Dưới thời vua Lê Uy Mục, Triều đình suy thoái, nịnh thần hoành hoành. Phạm Đôn Lê lúc này giữ chức Thượng thư, thường can gián, nhắc nhà vua không nên nghe lời những kẻ nịnh thần, khiến những kẻ này rất căm ghét ông.

Khi cửa sông Luộc bị vỡ, Phạm Đôn Lễ giúp dân kè lại cửa sông bị vỡ. Đúng thời gian đó, công chúa bị ốm, những kẻ nịnh thần nhân cơ hội này tâu với nhà Vua rằng: “Công chúa bị ốm là do Phạm Ðôn Lễ đào đắp đê cửa sông Luộc, đã bị phạm đến long mạch”.

Làm vua cũng thật khó, những nịnh thần lại thường là những người rất khéo ăn nói, lời nói ra cũng rất có lý, thường nhắm vào tâm lý con người, nhà vua cũng khó phân biệt thật giả.

Thế rồi, vua nghe lời gièm pha mà khép tội Phạm Đôn Lễ, nhưng nhờ có lời tấu của các trung thần trong Triều, Vua đã giảm tội cho ông. Tuy vậy, Vua bắt ông phải từ quan.

Phạm Đôn Lễ cùng vợ con về Hải Triều, sau đó lại dời về quê phụ thân ở làng Mỹ Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Ông truyền nghề làm chiếu cho người dân nơi đây, đồng thời mở trường dạy học đến cuối đời.

Sau khi ông mất, dân làng cảm kích vị Trạng nguyên Tam nguyên, cả đời liêm khiết, nên đã xây lăng mộ khá quy mô. Người dân Hải Triều cũng lập đền thờ ông. Hàng năm, cứ vào ngày mất của Phạm Đôn Lễ, vào mùng 6 tháng Giêng, người dân các làng Hải Triều, Bùi Xá, Hà Xá, Thanh Triều, Kiều Thạch, Mỹ Ðại, Xuân Hải, Xuân Trúc… đều tổ chức lễ hội để tưởng nhớ đến Trạng chiếu.

Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, hẹn gặp lại bạn trong những tập tiếp theo.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Việt Sử

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>