Khi một sự vật phát triển đến cực thịnh, thì nó sẽ quay sang phương diện đối lập của chính mình, đó gọi là “vật cực tất phản”. Từ đó sinh ra một lối tư duy rất đặc trưng – tư duy phản hướng.
Trong Đạo Đức Kinh có câu:
“Đại thành nhược khuyết, kỳ dụng bất bì; đại doanh nhược xung, kỳ dụng bất cùng; đại trực nhược khuất, đại xảo nhược chuyết, đại biện nhược nột.”
Tạm hiểu là:
Cái hoàn thành dường như còn thiếu khuyết, nhưng công dụng lại vô cùng tận; cái đầy tràn dường như còn trống rỗng, nhưng lại không bao giờ cạn kiệt. Người ngay thẳng thì giống như cong; người khéo léo thì giống như vụng về; người rất giỏi biện luận thì lại giống như đang ngập ngừng.
Câu văn theo mô thức “Đại A nhược B”, trong đó A và B lại là hai trạng thái đối lập. Ví dụ như “đại xảo nhược chuyết” nghĩa là một người làm việc rất khéo léo, nhưng bề ngoài lại trông có vẻ vụng về.
Có một câu chuyện như sau. Khi Tào Tháo được phong làm Ngụy vương, ông cần chỉ định người kế vị. Hai người con trai là Tào Phi và Tào Thực vì thế mà ngấm ngầm tranh giành, ai cũng tìm mọi cách để lấy lòng cha.
Khi Bùi Tùng Chi chú giải Tam Quốc chí, có kể lại một chuyện. Một lần, Tào Tháo chuẩn bị đem quân chinh phạt, bá quan văn võ đều đến thao trường tiễn ông. Đêm trước hôm xuất quân, Tào Thực đã viết một bài văn rất hay để ca ngợi công đức của phụ thân. Mọi người xung quanh đều cho rằng bài văn ấy rất tuyệt, ai nấy đều nhìn Tào Thực với ánh mắt thán phục. Ngay cả Tào Tháo cũng rất hài lòng.
Nhưng Tào Tháo vừa vui thì Tào Phi lại lo, vì rõ ràng vị trí của người em trong lòng cha đã được nâng lên một bậc. Mà Tào Phi thì chẳng chuẩn bị gì, cũng không có bài văn nào cả. Làm sao bây giờ?
Lúc đó, mưu sĩ Ngô Chất bèn ghé tai Tào Phi nói nhỏ:
“Vương sắp ra đi, ngài chỉ cần khóc là đủ rồi.”
Vậy là Tào Phi lập tức òa khóc. Khóc nức nở vì thương cha tuổi cao, lại phải dấn thân nơi chiến trường nguy hiểm, van cha phải cẩn trọng… Khóc đến mức nấc nên, không nói nên lời, dường như là chân tình phát ra từ đáy lòng. Kết quả là Tào Tháo cũng xúc động rơi lệ, các bá quan đi theo tiễn cũng cảm động khóc theo.
Sau này trong Tam Quốc chí còn ghi lại phản ứng tâm lý của các quan rằng: “Mọi người đều cho rằng Tào Thực lời lẽ hoa mỹ, nhưng tấm lòng thì không bằng Tào Phi.”
Bạn thấy điều gì từ câu chuyện đó?
Tào Thực là người rất thông minh và tài hoa – mà sự thông minh, tài hoa ấy không phải ai cũng có được. Nhưng Tào Phi lại thể hiện đúng với câu “đại xảo nhược chuyết” – dùng một chiêu mà ai cũng có thể làm được, một hành động tưởng chừng rất vụng về, rất đơn giản: khóc. Thế nhưng chính sự vụng về ấy lại tinh tế hơn mọi mỹ từ, khiến Tào Tháo cảm động đến rơi lệ. Đây chính là một ví dụ điển hình cho tư duy phản hướng – một kiểu trí tuệ thâm sâu đã xuất hiện rất nhiều lần trong lịch sử Trung Hoa.
Có khi bạn không cần nói gì, không tranh biện, không thể hiện tài năng gì đặc biệt, nhưng lại là người có sức thuyết phục nhất. Đó gọi là “đại biện nhược nột” – nói năng đại tài mà như câm lặng.
Chính lối tư duy phản hướng này, trong Đạo Đức Kinh, được coi là đạo trị quốc của bậc vương giả. Lão Tử viết: Biển lớn có thể làm vua của trăm sông, là vì nó biết tự đặt mình ở chỗ thấp hơn tất cả các dòng sông khác, vì vậy mà mọi sông đều đổ về. Biển là bậc vương, không phải vì nó cao, mà vì nó thấp. Nó khiêm nhường, cho nên được tôn kính.
Tiếp theo, Lão Tử nói:
Bậc thánh nhân nếu muốn ở trên người khác, thì trước hết phải khiêm tốn hạ mình trong lời nói. Muốn dẫn đầu thiên hạ, thì trước tiên phải bước sau người khác. Vì vậy mà khi thánh nhân ở địa vị cao, người ta cũng không thấy nặng nề; khi ông ta ở phía trước, người khác cũng không cảm thấy bị cản trở. Do đó thiên hạ vui lòng tôn ông lên mà không thấy chán ghét. Bởi vì ông không tranh, nên không ai có thể tranh lại với ông.
Hãy tưởng tượng có một tình huống: trong một nhóm người cần chọn ra một vị thủ lĩnh. Có hai ứng viên – một người rất nghiêm khắc, rất tài giỏi, nhưng hay gây áp lực; người còn lại thì ôn hòa, tôn trọng mọi người, không thích ganh đua. Dù người đầu tiên có năng lực đến đâu, người ta cũng không thích, vì họ sẽ cảm thấy bị áp lực. Còn người thứ hai, vì khiêm tốn, không tranh giành, nên mọi người đều sẵn sàng nghe theo.
Về sau, Lão Tử viết: “Dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh” – tức là, bởi vì thánh nhân không tranh giành với người khác, cho nên cũng không ai có thể tranh giành với ông. Đây chính là một kiểu “tư duy nghịch hướng” điển hình. Chúng ta thường nghĩ muốn đạt được vị trí nào đó thì phải cố gắng tranh đấu, đánh bại người khác. Nhưng Lão Tử lại chỉ ra rằng, có những lúc lùi một bước thì hiệu quả lại tốt hơn.
Đường Thái Tông đã mở ra thời kỳ “Trinh Quán chi trị”, ông là một vị quân vương hiền minh và nhân ái. Nhưng gia đình của ông thì lại luôn có vấn đề. Trước khi lên ngôi, ông từng trải qua biến cố “Huyền Vũ môn chi biến”, do đại huynh và tam đệ mưu hại. Sau đó, Đường Thái Tông lập con trưởng với Trưởng Tôn hoàng hậu làm Thái tử, tên là Lý Thừa Càn. Nhưng Lý Thừa Càn là kẻ nhân cách thấp kém, làm nhiều chuyện xấu. Đường Thái Tông nhiều lần khoan dung, thậm chí không ngừng mời những nho sinh nổi tiếng nhất thời bấy giờ đến làm thầy, mong dùng lời dạy của bậc thánh hiền để hóa giải sự hung hăng của hắn. Nhưng Lý Thừa Càn vẫn không hối cải, cuối cùng còn cùng Hầu Quân Tập mưu tính làm loạn. Đường Thái Tông phát hiện, liền phế bỏ chức vị Thái tử của Lý Thừa Càn.
Khi đó, người mà Thái Tông xem là người kế vị lý tưởng chính là người con thứ tư – Ngụy vương Lý Thái. Lý Thái là bậc văn nhân, thích kết giao với nhiều danh sĩ đương thời. Sau khi phế chức của Lý Thừa Càn, Thái Tông từng nói chuyện riêng với người con này. Lý Thừa Càn vẫn cứng đầu nói: “Con vốn đã là Thái tử rồi, chỉ cần đợi một thời gian nữa là có thể làm hoàng đế, sao lại phải mưu phản? Là vì lão Tứ – Lý Thái – liên tục bày mưu tính kế, muốn tranh ngôi vị, khiến con không thể chờ đợi được nữa, nên mới phải làm vậy.”
Sau này, Đường Thái Tông từng triệu tập những đại thần thân tín như Trưởng Tôn Vô Kỵ, Phòng Huyền Linh, Lý Tĩnh, Chử Toại Lương vào triều bàn việc, hoàng đế than rằng: “Con ta, em ta đều ra nông nỗi như vậy, lòng trẫm thật vô cùng đau khổ!”
Có lúc, Đường Thái Tông thậm chí rút kiếm muốn tự vẫn, nhưng Chử Toại Lương đã ôm lấy hoàng đế, đoạt lấy thanh kiếm.
Trưởng Tôn Vô Kỵ mới hỏi:
“Vậy rốt cuộc Bệ hạ đã quyết định lập ai làm Thái tử chưa?”
Thái Tông trả lời:
“Trẫm muốn lập Tấn vương Lý Trị” – tức là người con thứ chín.
Trưởng Tôn Vô Kỵ lập tức nói:
“Thần xin tuân chỉ, nếu ai có dị nghị, thần xin chém đầu hắn!”
Tính cách của Đường Cao Tông Lý Trị vốn rất nhu nhược. Khi Lý Thừa Càn và Lý Thái tranh giành ngôi vị, Lý Trị hoàn toàn không có hành động gì, vì chuyện ấy chẳng liên quan gì đến ông ta cả. Một người hoàn toàn không tranh đấu, mà cuối cùng lại được lên làm Hoàng đế.
Vậy vì sao Đường Thái Tông lại lập Lý Trị làm Thái tử? Chính hoàng đế từng nói: “Vì Lý Thừa Càn và Lý Thái tranh giành ngôi vị, nếu ta chọn Lý Thái, thì sẽ tạo ra một ấn tượng xấu – rằng ngôi Thái tử có thể tranh giành được bằng âm mưu thủ đoạn. Về sau nếu có Thái tử nào phạm lỗi, mà lại có các vương gia đang rình rập vị trí ấy, thì những Thái tử đó sẽ vĩnh viễn bị loại khỏi quyền kế vị. Cứ theo tiền lệ này mà làm mãi ư.”
Rồi Đường Thái Tông lại nói tiếp: “Nếu lập Ngụy vương Lý Thái làm Thái tử, thì Lý Thừa Càn chắc chắn sẽ chết, mà Tấn vương Lý Trị cũng khó toàn mạng. Nhưng nếu sau này Lý Trị lên ngôi hoàng đế, thì hai người kia đều có thể giữ được mạng.”
Chúng ta có thể thấy, giữa cuộc đấu đá khốc liệt, đầy rẫy âm mưu và phản bội trong chốn hậu cung, chỉ có một người không tham gia vào đó – chính là Lý Trị. Ông là người “bất tranh” (không tranh giành). Vậy mà rốt cuộc, ngai vàng lại rơi vào tay ông. Chính vì Lý Trị không tranh đoạt, nên lại được ban cho ngôi vị đế vương.
Những lời dạy tương tự như vậy xuất hiện rất nhiều trong Đạo Đức Kinh. Lão Tử nói: Nước là cái thiện cao nhất. Nước có lợi cho vạn vật mà không tranh giành, luôn chảy đến nơi thấp, nước ở chỗ mà người đời không thích – chảy qua chỗ bẩn, chỗ thấp – nó gần với “Đạo”.
Trong mắt Đạo gia, thứ tốt nhất chính là nước, vì nước có đức khiêm hạ, luôn hướng xuống dưới, không ganh đua với muôn loài, và cam chịu ở những nơi thấp nhất. Chính vì thế mà nước thể hiện trọn vẹn đức tính của “Đạo”.
Khi chủ động đặt mình vào vị trí thấp, thì kết cục lại thường là nhận được những điều tốt đẹp hơn.
Lão Tử còn viết: Muốn thu lại, thì trước tiên phải mở ra; muốn làm yếu đi, thì trước tiên phải làm mạnh lên; muốn diệt bỏ, thì phải nâng đỡ trước đã; muốn lấy đi, thì trước phải cho đi.
Ví dụ như muốn đánh bại một quốc gia, thì không nên ra sức làm cho nó suy yếu, mà trái lại phải tìm cách khiến nó mạnh lên. Giống như trong Thái Cực đồ – khi người ta đang leo đến đỉnh núi mà chỉ còn một chút nữa là tới, thì đẩy họ lên đỉnh, thì từ đó trở đi không cần làm gì nữa, họ sẽ tự nhiên rơi xuống dốc. “Muốn làm yếu đi, phải làm cho mạnh trước”, nhiều người đọc câu này sẽ thấy nó giống như mưu lược, giống như binh pháp.
Đôi khi, muốn đạt được một mục tiêu nào đó, bạn phải làm một hành động ngược lại. Chẳng hạn, nếu muốn bán một món hàng – tức là muốn lấy tiền từ túi người khác bỏ vào túi mình – thì có thể tặng mọi người một mẫu sản phẩm dùng thử nho nhỏ. Khi đi siêu thị, bạn sẽ thấy có những quầy cho thử ăn miễn phí. Ăn xong thấy ngon, người ta sẽ mua tiếp. Đây chính là: “Muốn lấy, phải cho trước.”
