Đạo gia (5) Phương pháp trị quốc theo học thuyết Đạo gia

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 26/10/2025

Vì Đạo Đức Kinh nói về Đạo, nên nó bao hàm trong mọi lĩnh vực. Có người từ đó thấy được binh pháp, có người thấy được thuật kinh doanh, người khác lại học được cách đối nhân xử thế, và dĩ nhiên cũng có người nhìn thấy trong đó đạo lý trị quốc an dân.

Những bậc hiền triết thời xưa – những người thật sự hiểu Đạo – họ không mong muốn dân chúng trở nên quá thông minh, mà ngược lại, muốn dân trở nên “ngu” hơn một chút. Chữ “ngu” ở đây không phải là “ngu dốt” theo nghĩa mạt sát, mà là một sự đơn thuần, chất phác, không tranh khôn giành lợi.

Lão Tử còn nói:

“Đại Đạo phế, hữu nhân nghĩa; trí huệ xuất, hữu đại ngụy.”
Tức là: Khi Đại Đạo bị phế bỏ, thì mới nảy sinh ra “nhân nghĩa”; khi trí huệ thế gian xuất hiện, thì cũng là lúc giả dối lan tràn.

Đó là vào thuở sơ khai, khi con người mới được sinh thành, họ sống rất đơn sơ và chất phác. Có thể nói, tinh thần con người khi đó hoàn toàn hợp nhất với Đạo. Họ hoàn toàn là thuần chân. Họ cũng không biết thế nào là thiện ác, họ chỉ sống thuần khiết như thế. Nhưng sau một thời gian dài, con người sinh sôi nhiều lên, tư tưởng của họ không còn hợp với Đạo nữa, khi đó được gọi là “Đại Đạo bị phế bỏ”. 

Thực ra Đạo vẫn còn đó, nhưng con người đã không còn thuần khiết. Nên gọi là “phế bỏ”. Và khi Đại Đạo bị phế bỏ, thì bắt đầu phân ra nhân nghĩa, thiện ác. Khi ấy bắt đầu có những người tuyên dương nhân nghĩa.

Hãy thử nhìn vào thế giới hiện đại mà chúng ta đang sống, bạn sẽ thấy có đủ mọi loại học thuyết và tư tưởng: Kinh tế học thì tranh luận giữa chủ nghĩa tự do cổ điển và học thuyết Keynes. Về văn hóa, có người ủng hộ đa nguyên, có người lại muốn quay về văn hóa truyền thống như Kitô giáo thuần khiết. Có người đề cao chủ nghĩa Mác, người khác lại cho rằng truyền thống xưa mới là đúng đắn. Trong nghệ thuật cũng thế: hiện đại hay cổ điển? Trừu tượng hay hiện thực?…

Khi mà đủ loại học thuyết cùng xuất hiện, thế giới ấy chính là một nơi thật giả lẫn lộn. Đó là thế giới đã rời xa khỏi Đạo, đã mất Đạo.

Lão Tử nói:
“Trí huệ xuất, hữu đại ngụy” – khi con người cho rằng mình thông minh, họ bắt đầu phát minh ra vô số học thuyết sai lầm, thậm chí là cực đoan.

Cho nên, trí tuệ chân chính không phải nằm ở số lượng lý thuyết mà xã hội sản sinh ra, mà là khi cả xã hội ấy phải đạt được trạng thái: “Kiến tố bão phác, thiểu tư quả dục” – giản dị, mộc mạc, ít tư tâm, ít dục vọng. Đó mới là khi lòng người yên tĩnh, và trí huệ chân thực sinh ra từ nội tâm, chứ không phải từ sách vở, tranh luận hay lý thuyết bên ngoài.

Nghe đến đây, nhiều người có thể sẽ nghĩ: “Vậy Lão Tử chẳng phải đang khuyến khích chính sách ngu dân hay sao? Muốn ngu dân để dễ bề cai trị?”

Vì vậy, có người chỉ trích văn hóa truyền thống, cho rằng nó cổ hủ, kìm hãm sự phát triển của tư duy. Nhưng nếu thật sự nghiên cứu văn hóa phương Tây, bạn sẽ phát hiện ra… họ cũng nói điều tương tự.

Theo Kinh Thánh, tại sao Chúa lại trục xuất Adam và Eva khỏi vườn địa đàng? Là bởi vì họ đã ăn trái cấm – là quả của cây tri thức thiện ác. Khi họ có được trí tuệ phân biệt thiện ác, thì Chúa nói: “Các ngươi không thể ở lại vườn địa đàng nữa.”

Đằng sau câu chuyện ấy chính là một đạo lý tương thông với những gì Lão Tử nói. Cả Đông lẫn Tây, đều chỉ ra rằng: Khi con người tự cho mình là thông minh, là có tri thức… thì cũng là lúc họ không còn thuần tịnh nữa, họ đã rơi khỏi Đạo, đã đánh mất Đạo.

Những bậc Giác giả ở cả phương Đông lẫn phương Tây – tức là các vị Thần – thực ra họ đều có cái nhìn rất giống nhau về thế gian này. Không phải hễ con người thông minh, đầu óc hoạt bát là chuyện tốt. Ngược lại, càng truy cầu vào những học thuyết thế gian, con người càng rời xa chân lý.

Bạn xem, Lão Tử nói:

Không tôn sùng người hiền tài, khiến dân không tranh giành. Không quý trọng vật hiếm khó có, khiến dân không trộm cắp. Không bày ra những thứ dễ khiến người ham muốn, khiến dân không loạn tâm. Cho nên, bậc Thánh nhân cai trị nước thì: Làm rỗng tâm họ, làm no bụng họ, làm yếu chí họ, làm mạnh gân cốt họ, khiến dân luôn sống trong trạng thái không biết, không ham muốn.

Ngay cả Plato – triết gia vĩ đại của phương Tây – cũng từng nói rằng: Tri thức chân chính là một sự hồi tưởng, là sự ghi nhớ lại những điều mà linh hồn từng thấy trong thế giới lý tưởng (ideal world). 

Nói cách khác, khi phản bổn quy chân, sẽ nhớ lại những cảnh tượng trên Thiên quốc, và từ đó tiếp nhận được trí huệ khai mở từ thần giới.

Dù là Lão Tử, hay Thượng Đế, hay Plato, thực ra đều đang nói với chúng ta rằng:
Chân lý không nằm ở thế gian, mà ở trong tay Thần.

Vậy thì trạng thái lý tưởng của nhân loại là gì?

Trong hình dung của Lão Tử, xã hội lý tưởng là “tiểu quốc quả dân” – tức nước nhỏ, dân ít, là một xã hội mà ai cũng quen biết nhau, không cần quá nhiều luật pháp. Mọi người sống trong sự ràng buộc bằng luân lý đạo đức, ai cũng biết tên biết mặt nhau, nên sống với nhau bằng sự tử tế và thấu hiểu – bạn tốt với tôi, tôi tốt với bạn.

Đó là một xã hội của người quen, còn chúng ta hiện nay đang sống trong xã hội của người xa lạ – thậm chí ở cách nhau hai căn nhà, ta còn chẳng biết họ tên là gì.

Trong một xã hội người quen, quan hệ giữa người với người rất gần gũi, có thể dùng luân lý để gìn giữ. Với một xã hội như vậy, Lão Tử đề xướng phương pháp trị quốc là: vô vi.

Ông nói:

“Trị đại quốc, nhược phanh tiểu tiên” – tức là trị nước lớn giống như nấu món cá nhỏ. Cá nhỏ khi nấu không thể đảo lật quá nhiều – đảo nhiều quá thì cá nát. Phải nấu từ tốn, giữ lửa nhỏ, không can thiệp quá mức. Cho nên trị nước cũng cần lấy “vô vi” làm gốc.

Lão Tử cũng từng đề cập đến các cấp độ khác nhau trong việc trị quốc. Ông nói: “Thái thượng, bất tri hữu chi; kỳ thứ, thân nhi dự chi; kỳ thứ, úy chi; kỳ thứ, vũ chi”.

Tức là:

Cảnh giới cao nhất trong việc trị quốc là: “dân không biết có vua” – tức là họ sống bình yên đến mức không cảm nhận được sự cai trị, đó là vô vi nhi trị, là cảnh giới tối cao. Nó giống như bạn hít thở không khí, uống nước mỗi ngày – bạn không hề ý thức rằng có ai đó đang ban tặng những điều đó cho bạn. Sự tồn tại của bậc Thánh quân như không khí và nước, âm thầm mà vô cùng thiết yếu.

Cảnh giới thấp hơn một bậc là: “thân nhi dự chi” – người dân yêu quý, tôn vinh vua chúa, cảm thấy nhà vua rất tốt, rất đáng kính. Đây là cấp độ thứ hai.

Thấp hơn nữa là: “úy chi” – làm người dân sợ hãi, thấy vua thì né tránh, lời vua là mệnh lệnh tuyệt đối. Đó là chế độ chuyên chế, nơi người dân bị cai trị bằng nỗi sợ. Một số xã hội độc tài rơi vào trạng thái này.

Còn tệ hại nhất là: “vũ chi” – tức là dân chúng chửi rủa nhà cầm quyền.

Và xã hội cộng sản – điển hình là Trung Cộng – chính là kiểu “vũ chi”. Không chỉ bị người dân mắng chửi, Đảng Cộng sản đôi khi còn thuê người… chửi chính mình. 

Tại sao vậy? Bởi vì khi một người thường xuyên mắng chửi Đảng Cộng Sản, thì họ sẽ tích lũy được uy tín trong lòng công chúng. Người ta sẽ nghĩ: “À, người này dám chửi Đảng, chắc là dũng cảm, là chính trực.”

Nhưng đến những thời điểm then chốt, khi chính quyền cần ai đó nói đỡ cho mình, thì những người từng mắng chửi Đảng suốt thời gian dài ấy sẽ đứng ra (vì rốt cuộc là họ được thuê mà làm).

Lúc ấy, dư luận sẽ nghĩ:
“Đến cả người từng chỉ trích gay gắt Trung Cộng cũng nói điều này là tốt, thì có lẽ thật sự là tốt.”

Chúng tôi nêu ra một ví dụ điển hình: Khi Trung Cộng vận động đăng cai Olympic Bắc Kinh 2008, hay vận động Mỹ cấp quy chế tối huệ quốc, chính phủ và quốc hội Hoa Kỳ đã tham khảo ý kiến của những người thường xuyên chuyên chỉ trích Trung Cộng.

Một số người có thể là ngây thơ, nhưng cũng có không ít người đã có thỏa thuận ngầm với Trung Cộng, cho nên họ – những người từng tích lũy rất nhiều uy tín vì mắng Trung Cộng – lại đứng ra nói điều mà Trung Cộng muốn nghe nhất:

“Nên để Trung Quốc tổ chức Thế vận hội.”
“Nên làm ăn với Trung Quốc.”
“Nên tách vấn đề nhân quyền ra khỏi thương mại.”

Đó chính là kỹ thuật vận dụng “vũ chi” – là hạ sách trong cách trị quốc, nhưng được Trung Cộng khai thác rất tinh vi.

Lão Tử còn nói:
“Cố thất Đạo nhi hậu Đức, thất Đức nhi hậu Nhân, thất Nhân nhi hậu Nghĩa, thất Nghĩa nhi hậu Lễ”

Tức là: Mất Đạo rồi, thì người ta mới nói đến Đức; Mất Đức rồi, thì mới nói đến Nhân; Mất Nhân rồi, thì mới nói đến Nghĩa; Mất luôn cả Nghĩa, thì mới cần dùng đến Lễ để ràng buộc xã hội.

Vậy nên, thời của Khổng Tử là thời Lễ băng nhạc hoại. Con người khi ấy đã không còn đạo, không còn đức, cũng chẳng còn nhân nghĩa, ngay cả Lễ cũng đang trong giai đoạn băng hoại. Khổng Tử cố gắng vực lại Đạo đức của một xã hội như thế, thì quả là việc thập phần gian khổ.

Đây cũng là hệ thống thứ bậc trong tư tưởng trị quốc của Lão Tử – càng xuống thấp, càng xa rời Đạo, càng cần đến hình thức và cưỡng chế.

Nho gia giảng về Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nhưng Lão Tử cho rằng, nếu một xã hội đã phải dùng đến “Nghĩa” để duy trì, thì xã hội đó đã xuống cấp sắp đến đáy rồi. Tính đến hiện tại, con người đã phải dùng đến hình thức pháp luật cưỡng chế để duy trì xã hội, nhưng vẫn luôn có kẻ phạm tội tử hình.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Bàn về Đạo gia

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>