Đỗ trạng nguyên nhờ biết “nghe lời vợ” – Câu chuyên của Trạng nguyên Vũ Tuấn Chiêu

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 24/09/2025
Danh mục: Việt Sử

Chào mừng các bạn đến với kênh Radio của chúng tôi. Trong video này, tôi xin chia sẻ câu chuyện của Trạng nguyên Vũ Tuấn Chiêu. Là người xuất thân với gia cảnh bần hàn, Vũ Tuấn Chiêu cũng không phải là người thông minh, nhưng nhờ sự chăm chỉ cần mẫn, ông đã đỗ Trạng nguyên, làm rạng danh cho gia tộc.

Kính thưa quý vị và các bạn, Vũ Tuấn Chiêu là người làng Xuân Lôi, xã Cổ Ra (nay thuộc xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định), ông đỗ Trạng Nguyên vào năm 1475, khi đó ông đã ngoài 50 tuổi, và là một trong 3 vị Trạng Nguyên già nhất.

Con đường khoa bảng của Vũ Tuân Chiêu rất gian nan. Năm ông 6 tuổi thì cha ông lâm bệnh rồi qua đời, họ hàng thân thích không nhiều, gia cảnh lâm vào cảnh túng thiếu, mẹ ông phải bán hết nhà cửa, chỉ còn giữ lại mảnh đất hương hỏa.

Cuối cùng, do hoàn cảnh quá khó khăn, bà đã phải để lại mảnh đất hương hỏa, nhờ hàng xóm là ông Trần Công, trông coi giúp. Thế rồi, hai mẹ con về quê ngoại ở làng Nhật Thiên, xã Nhật Chiêu, huyện Quảng Đức, ngoại thành Thăng Long, hai mẹ con phải sống nương nhờ sự đùm bọc của nhà ngoại.

Cuộc sống cứ thế trôi qua, suốt 10 năm họ phải sống trong cảnh khó khăn. Lúc Vũ Tuấn Chiêu 16 tuổi, thì cũng là lúc mẹ ông qua đời. Ông quyết định trở lại làng Xuân Lôi, để làm ăn và sinh sống tại đây.

Lúc này, ông Trần Công đã già, vợ cũng đã mất. Thấy Vũ Tuấn Chiêu đã lớn, mặt mũi tuấn tú, dáng người khỏe mạnh, nên quyết định gả con gái của mình là Trần Thị Chìa cho Tuấn Chiêu.

Trần Thị Chìa là cô gái nết na, thùy mị, cô không quản vất vả, chăm chỉ việc ruộng đồng, rồi lại dệt vải kéo tơ; vừa phụng dưỡng cha già, lại vừa nuôi chồng ăn học. Năm 1459, ông Trần Công mất, Trần Thị Chìa dồn sức chăm lo cho chồng ngày đêm đèn sách, mong có ngày ông vinh quy bái tổ.

Nhưng, tuy Vũ Tuấn Chiêu mặt mày khôi ngô sáng sủa, nhưng học hành lại tối dạ, đầu óc không có tư chất thông minh. Suốt mười mấy năm đèn sách, ngày ngày đều đến học với thầy, nhưng không mấy tiến bộ. Mặc dù vậy, ông vẫn kiên trì cố gắng, dù tuổi đã ngoài 40, nhưng vẫn đến lớp học cùng đám trẻ mới lớn, bọn nhóc tóc còn để chỏm.

Biết chồng học kém, nhưng bà Chìa vẫn kiên trì khuyên nhủ chồng chịu khó học hành. Bà Chìa làm việc vô cùng chăm chỉ. Hàng tháng, bà gánh gạo từ nhà đến Hạ Vũ, để chu cấp chi phí cho chồng, bà lại đưa thêm tiền chu cấp để ông yên tâm ăn học.

Có lần bà Chìa gánh gạo đến, thầy giáo gặp mặt rồi nói muốn trả chồng về vì học kém quá, cứ như thế thì ở nhà cày ruộng còn hơn, thầy giáo nói: “Trò Chiêu tuổi đã nhiều, học không tấn tới, nay ta cho về giúp con việc nhà, việc đồng ruộng, cho con bớt bề vất vả”.

Bà Chìa xin hết lời, nhưng thầy giáo vẫn không thay đổi ý định, bà đành chào thầy rồi cùng chồng thu xếp quần áo sách vở, trở về nhà. Đến đầu làng, hai vợ chồng dừng chân nghỉ bên chiếc cầu đá, bắc qua nhánh sông nhỏ. Vũ Tuấn Chiêu nhìn thấy mấy cây cột đá chân cầu bị mòn hẳn đi, ông mới ngạc nhiên hỏi vợ, bà Chìa đáp rằng:

“Nước chảy đá mòn, nước chảy lâu ngày đã làm mòn những cột đá của cây cầu! Chàng thấy đấy, cột đá là vật cứng rắn, dòng nước thì mềm, nhưng qua năm tháng cứ chảy, khiến cho đá cũng phải mòn. Cho nên, làm việc gì nếu có chí, sự kiên trì, nhẫn nại, tất sẽ thành công”.

Lời của người vợ hiền khiến Vũ Tuấn Chiêu bừng tỉnh ngộ, ông lập tức bảo vợ về nhà, còn mình thì mang quần áo sách vở trở lại để tiếp tục học. Khi gặp thầy, ông thưa rằng:

“Nước chảy đá mòn, thưa thầy, việc học cũng như vậy, nếu có chí học thì thế nào cũng sẽ khá lên. Nay con trở lại trường, quyết tâm dùi mài kinh sử, mong một ngày chiếm tên trên bảng vàng, trước là khỏi phụ công ơn dạy dỗ của thầy, sau là đền đáp tấm lòng của vợ, và cũng là để thỏa cái chí của con”.

Dù lời nói này rất có khẩu khí, nhưng thầy giáo đã không còn tin tưởng vào người học trò đã rất lớn tuổi này rồi, nên thầy tìm cớ để đuổi học trò này về. Thầy đồ yêu cầu ra một vế đối, nếu Tuấn Chiêu đối được thì sẽ cho ở lại học. 

Sau một lúc ngẫm nghĩ, thầy đưa ra một vế đối là: “Lác đác mưa sa làng Hạ Vũ”.

Suy nghĩ một lúc, Tuấn Chiêu đối rằng: “Ầm ì sấm động đất Xuân Lôi”.

Vế đối làm thầy đồ rất hài lòng. Từ đó, Vũ Tuấn Chiêu được ở lại, tiếp tục dùi mài kinh sử, sức học cũng tiến dần lên. Trong 5 năm tiếp theo, bà Chìa tóc đã hoa râm, già theo năm tháng, nhưng bà vẫn vừa lo việc ruộng vườn, vừa chăm sóc con cái, lại còn đều đặn gồng gánh đem gạo, mang dầu thắp đèn và tiền bạc từ nhà đến nơi trọ học của chồng, cho đến khi bà lâm bệnh rồi qua đời. Năm đó Vũ Tuấn Chiêu đã gần 50 tuổi.

…

Sau khi vợ mất ít lâu, Vũ Tuấn Chiêu cùng con một lần nữa trở lại quê ngoại của mình ở làng Nhật Thiên, xã Nhật Chiêu, vì nơi đây gần kinh thành, tiện cho việc học hành và thi cử.

Đến khoa thi năm Ất Mùi (tức năm 1475), Vũ Tuấn Chiêu về kinh ứng thí, ông nhanh chóng vượt qua kỳ thi Hội, rồi lọt vào kỳ thi Đình. Tại kỳ thi này, vua Lê Thánh Tông hỏi về phương kế làm cho binh mạnh, và biện pháp khiến cho dân giàu.

Vũ Tuấn Chiêu đã làm bài văn của mình với kiến giải sâu sắc, bài văn sách này vẫn được lưu lại trong cuốn gia phả của họ Vũ ở phường Nhật Tân (Quận Tây Hồ, Hà Nội) gồm 23 trang, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng từ 4 đến 31 chữ.

Trong bài văn sách, Vũ Tuấn Chiêu cho rằng: việc lớn nhất của người đứng đầu nhà nước là phải lo cho dân giàu nước mạnh. Ông trả lời:

Việc lớn của chính sự là phải làm cho binh mạnh dân giàu. Bởi vì dân là gốc của nước, binh có quan hệ tới sự mạnh yếu của nước. Cho nên, bậc thánh phải lo nghĩ điều đó… Than ôi! Binh mạnh thì trong nước yên ổn, bên ngoài thần phục, nước sẽ vững như bàn thạch. Dân giàu thì lễ nghĩa được thi hành, giáo hóa cũng theo đó trở nên tốt đẹp. Thần kính nghĩ: Phế bỏ một việc, chấn hưng một việc, cần phải hợp lòng dân. Nếu phế bỏ một việc nào đó mà nước nhà không có lợi, khôi phục một việc nào đó mà dân nghi ngờ không yên, há không lo lắng sao.

“Kế sách làm cho binh mạnh là việc làm. Kinh Dịch nói: “Bậc quân tử diệt trừ mọi rợ, việc khí giới không thể không lo”. Sử nhà Hán có chép: “Binh sĩ không tinh thì đem tướng cho kẻ thù, nhà vua không chọn tướng giỏi thì ném quân cho kẻ địch”.

“Thần cúi xin bệ hạ hãy dùng nhà Nho để cai quản việc quân thì quân sẽ mạnh”.

“Thần cho rằng nhà Nho không phải chỉ học rộng văn hay, thông kinh bác sử mà thôi. Những người đối với thân huân có lòng dũng khí, cố gắng quên mình, dẫu không học rộng, cũng vẫn là nhà Nho chân chính.Nếu yêu dân như con, thì dẫu không giỏi văn, cũng là nhà Nho nhân nghĩa. Trong bọn võ thần có kẻ giữ mình trong sạch, chăm chỉ luyện tập, dù không xuất thân từ kinh sử, thì cũng là nhà Nho vậy. Biết mình biết người, gặp sự quyết đoán, tuy không phải kẻ học hành, vẫn là bậc trí nho. Việc lựa chọn bảo cử nên công minh. Mọi việc nên ủy thác cho bậc quân tử có học thức. Lại ban lệnh mở mang việc học tập, nghiêm việc truất giáng. Công dẫu nhỏ cũng nên ban khen, kẻ phạm tội dù có công cũng không tha thứ. Như vậy, chọn đúng tướng soái, quân lữ có lệnh, sĩ tốt được thư nhàn, lo gì việc binh không mạnh.

Binh mạnh là để giữ nước, phương kế làm cho dân giàu cũng là việc cần nêu. Hán sử chép: “Việc tích lũy là mạng sống của đất nước.” Kinh Thi có câu: “Hãy tiết kiệm, hãy làm nhà kho, hãy tích lương thực”, nếu làm được như thế, nước không thể không giàu”. Sự giàu có là để nuôi dân, kho đụn của nhà nước chứa đầy, việc hiến cống của nơi phên dậu được chất đống. Ngày lại ngày như thế, thì nước sẽ giàu có. Thần cúi xin bệ hạ dùng Nho để chăn dân, nhưng phải dùng kẻ Nho có phẩm chất, có tác dụng. Giảm bỏ kẻ ăn không, bớt chi tiêu phung phí, thực hành chế độ tiết kiệm để của cải sinh sôi, muôn họ giàu có. Vậy lo gì nước không giàu.

Tuy nhiên, thuyền bị lật không phải do đường rộng, mà lo lúc cập bến, xe đổ không phải nơi độc đạo, mà thường ở chỗ đường bằng. Loạn nảy sinh không phải ở lúc đang lo dẹp loạn, mà ở lúc yên bình. Các bậc đế vương quân thần phải cùng nhau cảnh giới, khi lời rèm còn chưa nảy sinh. Thần mong muốn bệ hạ chăm lo sửa sang giềng mối, tôn sùng Nho thuật, xét soi mọi việc. Như vậy, mầm mống gây loạn tất bị ngăn chặn, người dám nói thẳng hướng theo. Dùng hiền tài chớ có hai lòng, vứt bỏ bọn sàm nịnh, không đắn đo, như thế thì bệ hạ sẽ có bề tôi giỏi, có tướng hiền tài, chính sự phấn phát, muôn dân được chăm lo, bốn phương yên ổn, vậy còn lo gì nền trị bình không được thực thi, lo gì mầm loạn không được dẹp bỏ…

Bài Văn sách của Vũ Tuấn Chiêu là một trong 3 bài xuất sắc nhất kỳ thi lần này, hai bài văn khác là của Cao Quýnh và Ông Nghĩa Đạt, điều này khiến nhà Vua khó có thể chấm xem ai sẽ đỗ Trạng Nguyên.

Để thử tài 3 người, nhà Vua bèn ra câu đố:

Thượng bất thượng
Hạ bất hạ
Chỉ nghi tại hạ
Bất khả tại thượng

Có nghĩa là:

Ở trên mà chẳng ở trên
Ở dưới mà không ở dưới
Chỉ có ở dưới
Không thể ở trên

Rồi Vua đố rằng đó là chữ gì? Trong khi Cao Quýnh và Ông Nghĩa Đạt đang suy nghĩ, thì Vũ Tuấn Chiêu đã đoán ra đó là chữ nhất (一). Vua Lê Thánh Tông liền chấm Vũ Tuấn Chiêu đỗ đầu, tức Trạng Nguyên, thứ nhì là Ông Nghĩa Đạt đậu Bảng Nhãn, danh hiệu Thám hoa thuộc về Cao Quýnh.

Khi đậu Trạng nguyên, Vũ Tuấn Chiêu đã ngoài 50 tuổi, ông là một trong 3 vị Trạng Nguyên già nhất trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.

Vũ Tuấn Chiêu làm quan trải nhiều chức vụ, sau này giữ tới chức Tả thị lang bộ Lại, tước Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu. Sự nghiệp của ông có công lao to lớn của người vợ hiền tần tảo, tiếc rằng bà lại không thể chứng kiến ngày vinh quy bái tổ của chồng mình.

Sau khi ông mất, Triều đình phong là “Tuấn lương Quang ý tôn thần”, sau gia tặng thêm làm “Dực bảo Trung hưng, Linh phù tôn thần”. Hiện nay, nhà thờ chính của Vũ Tuấn Chiêu ở xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ở đó vẫn còn tấm bia đá ghi lại 17 đôi câu đối, ca ngợi sự thành đạt và công lao của ông đối Giang Sơn Xã Tắc. Trong đó có câu:

Hồng Đức văn chương khôi nhất giáp
Xuân Lôi trở đậu lịch thiên thu.

Có nghĩa là:

Đời Hồng Đức văn chương nêu nhất giáp
Đất Xuân Lôi thờ cúng nghìn thu.

Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, hẹn gặp lại bạn trong những tập tiếp theo.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Việt Sử

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>