Phật giáo (8) Phật giáo hưng khởi, Lương Vũ Đế một lòng cầu Pháp

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 12/11/2025

Ảnh hưởng của Thiền tông đối với Trung Hoa là vô cùng sâu rộng. Từ thời Tống trở về sau, nhiều tư tưởng Thiền tông đã được dung hợp vào Nho học, trở thành một bộ phận quan trọng của Tân Nho học thời Tống. Rất nhiều kẻ trí thức cũng yêu thích đàm luận về “thiền”.

Từ cuối thời Ngũ Đại đến triều Tống, Trung Hoa bắt đầu xuất hiện những học viện nổi tiếng. Các đại nho chọn những nơi phong cảnh tươi đẹp để lập nên học viện. Phương thức quản lý của học viện phần nhiều dựa theo chế độ tùng lâm của Thiền tông – tức là hình thức tổ chức trong các thiền viện. Cả hai đều là nơi truyền đạo và giảng dạy: chỉ khác là tùng lâm của Thiền tông chuyên nghiên cứu kinh điển Phật gia và tu hành thiền định, còn học viện Nho gia thì chuyên học hỏi và thực hành đạo thánh hiền.

Sự phát triển của Phật giáo phương Bắc vào thời Đông Tấn và Thập Lục Quốc là rất mạnh mẽ. Bốn quần thể hang động Phật giáo lớn nhất được khai tạc ở miền Bắc. Còn Phật giáo phương Nam thì phát triển chậm hơn đôi chút.

Đỗ Mục từng làm bài thơ Giang Nam xuân rằng:

Thiên lý oanh đề lục ánh hồng,
Thủy thôn sơn quách tửu kỳ phong,
Nam triều tứ bách bát thập tự,
Đa thiểu lâu đài yên vũ trung.

Dịch thơ như sau:

Nghìn dặm tiếng oanh xen sắc đỏ,
Gió lay cờ quán rượu bên sông,
Bốn trăm tám chục chùa Nam quốc,
Khói mưa mờ ảo bóng đình đài.

Trong thơ có câu “Bốn trăm tám chục chùa Nam quốc”. Đây chỉ là con số tượng trưng; thực ra, số chùa ở phía Nam còn nhiều hơn thế. Đến thời Nam triều, đặc biệt là từ thời nhà Lương trở đi, Phật giáo phát triển cực thịnh – điều này có mối liên hệ rất lớn với Lương Vũ Đế, một vị hoàng đế hết lòng hộ trì Phật pháp.

Phật giáo lúc đầu hưng thịnh ở phương Bắc, nguyên nhân là vì trong thời kỳ Ngũ Hồ Thập Lục Quốc, có rất nhiều người Hồ làm hoàng đế, mà họ lại sùng kính Phật giáo. Còn ở phương Nam, giới trí thức lại chuộng học thuyết Đạo gia và Nho gia hơn.

Do chiến loạn liên miên và chế độ tuyển quan lúc bấy giờ, nhiều kẻ sĩ không có cơ hội thi cử ra làm quan, cuộc sống cũng vô cùng khổ cực. Vì thế, không ít người chọn thái độ ẩn dật, rời bỏ thế tục, du sơn ngoạn thủy, họ thường xuyên tụ hội đàm đạo.

Vào thời Ngụy – Tấn, giới trí thức thường tổ chức những buổi thanh đàm (trò chuyện thanh nhã), chủ đề chủ yếu xoay quanh ba bộ kinh điển là: Lão Tử, Trang Tử và Chu Dịch. Cả ba đều có mối liên hệ mật thiết với tư tưởng Đạo gia:

  • Lão Tử và Trang Tử là những trước tác của Đạo học.
  • Chu Dịch tuy là kinh điển của Nho gia, nhưng nội dung lại bàn đến quy luật vận hành của vũ trụ, nên cũng nghiêng nhiều về triết lý của Đạo.

Nhìn chung, trong bất kỳ thời đại nào, giới trí thức đều là tầng lớp có quyền phát ngôn lớn nhất, có khả năng dẫn dắt dư luận và là chủ đạo của xu hướng tư tưởng. Đại đa số người dân không đọc sách đều tin phục lời họ nói.

Vì muốn truyền bá Phật pháp tại Trung Hoa, nhiều cao tăng đã chủ động kết giao với những giới trí thức đương thời, như Chi Đạo Lâm, Pháp Hiển, Huệ Viễn, v.v. 

Trong đó:

  • Pháp Hiển từng sang Ấn Độ để cầu pháp, sau đó trở về và dịch kinh Phật.
  • Huệ Viễn là đệ tử của Đạo An, mà Đạo An lại là đệ tử của Phật Đồ Trừng. Huệ Viễn cư trú ở chùa Đông Lâm, núi Lư Sơn suốt ba mươi năm, thu nhận rất nhiều đệ tử, truyền bá Phật pháp, và được xem là tổ sư sáng lập của Tịnh Độ tông.

Chính nhờ những cuộc đối thoại sâu sắc giữa các cao tăng và tầng lớp trí thức, mà các nho sĩ bắt đầu nhận ra trong Phật giáo cũng ẩn chứa những triết lý sâu xa, không hề kém cạnh Nho gia, Đạo gia. Dần dần, giới trí thức tiếp nhận tư tưởng Phật học, và như thế, Phật giáo từ phương Bắc bắt đầu lan tỏa xuống phương Nam.

Trong buổi tụ hội ở Lan Đình của danh sĩ Đông Tấn như Vương Hi Chi, Tạ An, thì thiền sư Chi Đạo Lâm cũng là một trong những người tham dự. Ông còn được biết đến với cái tên là Chi Độn.

Nhà Đông Tấn sau đó bị thay thế bởi các triều đại Nam triều gồm Tống, Tề, Lương, Trần. Trong đó, vị hoàng đế khai quốc của nhà Lương là Lương Vũ Đế, ông là người vô cùng sùng kính Phật pháp.

Lương Vũ Đế là bậc văn võ toàn tài: không chỉ giỏi cưỡi ngựa bắn cung, mà còn am hiểu âm dương bói toán, văn chương thi phú cũng rất xuất sắc. Đặc biệt, Lương Vũ Đế có lòng nhiệt thành sâu sắc đối với việc tu hành Phật pháp.

Cả đời Lương Vũ Đế sống giản dị tiết kiệm, mỗi bữa ăn chỉ dùng rau thanh đạm và cơm gạo, hơn nữa ông còn không ăn sau giờ ngọ, y phục thì chỉ mặc vải thô. Lúc ban đầu, ông rất chăm lo việc trị nước. Lương Vũ Đế đã mở ra một thời kỳ chính trị thanh liêm và kinh tế vô cùng phồn vinh.

Tuy nhiên, Lương Vũ Đế cũng có một vấn đề lớn: đó là ông không biết phân định rõ giữa vai trò làm “hoàng đế” và “hòa thượng.”

Làm hoàng đế, thì phải quản lý quốc gia — mà trong quốc gia, tất yếu sẽ có người thiện và kẻ ác. Mà đã là vua, thì phải thưởng thiện phạt ác, thi hành vương pháp. Mà theo vương pháp, kẻ phạm trọng tội thì phải bị xử tử.

Thế nhưng, sau khi học Phật pháp, Lương Vũ Đế lại không nỡ sát sinh. Vì vậy, ông hầu như đã bãi bỏ hình phạt tử hình. Nhiều người phạm trọng tội, ông cũng không nỡ giết, chỉ mong dùng lòng từ bi cảm hóa họ. Thế nhưng kết quả lại phản tác dụng, vì phạm tội nặng mà không bị trừng phạt, nên kẻ phạm tội càng ngày càng lộng hành hơn trước.

Lại có một tình trạng đáng buồn khác. Đó là bởi vì người xuất gia không phải nộp thuế, nên rất nhiều kẻ ham ăn, lười làm, phạm pháp, hoặc muốn trốn thuế và trốn đi lính, họ đều đua nhau vào chùa, lấy cớ là tu hành, nhưng thực ra là muốn ẩn náu trong chùa. Những kẻ ấy không thật lòng quy y Tam Bảo, nên đã làm rối loạn chốn thiền môn vốn nên thanh tịnh.

Khi ấy, số lượng tăng ni, đạo sĩ và những kẻ trốn tránh ẩn trong chùa chiền cộng lại gần như chiếm đến một nửa dân số toàn quốc. Riêng ở kinh đô, đã có hơn năm trăm ngôi chùa, và trên mười vạn tăng ni. Điều đó đã gây tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc gia.

Lương Vũ Đế là người nhiệt thành với Phật pháp một cách đặc biệt, ông đã từng bốn lần tự nguyện xả thân đi tu tại chùa Đồng Thái, nghĩa là ông đã quyết bỏ ngôi vị Hoàng đế để làm hòa thượng.

Sau đó, bá quan và dân chúng lại phải bỏ tiền để chuộc ông về triều, tiếp tục làm hoàng đế. Mỗi lần chuộc như vậy, số tiền lên đến hàng trăm triệu quan, thậm chí hai trăm triệu. Lương Vũ Đế giống như đã dùng thân mình để quyên góp cho chùa.

Lương Vũ Đế còn thường xuyên khoác áo cà sa, lên pháp tòa giảng kinh thuyết pháp, và đã làm rất nhiều việc hoằng dương Phật pháp.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Bàn về Phật giáo

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>