Để củng cố quyền lực trung ương, Tần Thủy Hoàng từng ban chính sách di dời các hào cường địa phương về Hàm Dương. Sau này, Lưu Kính – người từng hiến kế hòa thân với Hung Nô – cũng đề nghị Lưu Bang làm theo. Đến thời Hán Vũ Đế, những thế lực có thể đe dọa triều đình ngoài hào cường còn có du hiệp – tức những đại hiệp chốn giang hồ, không chịu sự quản thúc của chính quyền.
Khi Hán Vũ Đế ra lệnh dời các hào cường đến Mậu Lăng, ông đặt ra quy định: Ai có tài sản vượt quá một mức nhất định đều phải dọn đến Mậu Lăng sinh sống. Khi ấy có một người tên là Quách Giải – vốn chẳng giàu có gì, nhưng là một đại hiệp nổi danh thiên hạ. Quách Giải là cháu ngoại của Hứa Phụ – người phụ nữ nổi tiếng về thuật xem tướng số. Trong các tập trước, chúng tôi từng nhắc đến bà: chính Hứa Phụ là người từng tiên đoán rất chính xác về Chu Á Phu – lúc nào được phong hầu, lúc nào làm tướng, và cả lúc nào sẽ chết đói. Bà cũng từng đoán rằng Bạc Cơ sẽ sinh ra một đứa con làm thiên tử, và quả nhiên sau này sinh ra Hán Văn Đế.
Đại hiệp Quách Giải sống ở Chỉ huyện, khi còn trẻ vì để hành hiệp trượng nghĩa nên đã từng làm nhiều chuyện phi pháp. Lúc bấy giờ có một người tên Dương Kỷ Chủ, con trai ông ta làm chức quan huyện lệnh ở huyện Chỉ, rất e sợ Quách Giải. Khi có lệnh dời dân đến Mậu Lăng, vị huyện lệnh này lập tức báo tên Quách Giải lên trên, mong tống vị đại hiệp này đi nhanh cho khuất mắt. Nhưng thực ra, tài sản của Quách Giải hoàn toàn không đạt đến mức phải dời đi.
Một lần, đại tướng quân Vệ Thanh nói với Hán Vũ Đế rằng:
“Tài sản của Quách Giải căn bản không đến tiêu chuẩn mà bệ hạ đặt ra, xin cho miễn.”
Hán Vũ Đế đáp:
“Một thường dân như Quách Giải mà khiến đại tướng quân phải lên tiếng cho hắn – thế thì hắn tuyệt đối không thể là người nghèo! Phải bắt hắn dời đi.”
Vì vậy, Quách Giải đành phải rời quê. Khi ông khởi hành, người tiễn chân đông nghẹt, ai nấy đều tặng tiền lộ phí, tổng cộng nhận được hơn mười triệu đồng tiền, tương đương ngàn cân vàng. Chỉ qua đó cũng đủ thấy thế lực của tầng lớp hào cường và du hiệp thời ấy mạnh đến mức nào.
Dù Quách Giải đã dời nhà đi, nhưng người cháu của ông phẫn nộ. Anh ta nổi giận đùng đùng đến nhà huyện lệnh, rồi trảm lấy thủ cấp mà mang đi. Sau đó, cha của huyện lệnh là Dương Kỷ Chủ cũng bị người ta sát hại. Người nhà của vị huyện lệnh kia lên đường đi kinh thành kiện cáo, nhưng giữa đường cũng bị giết.
Đó chính là cách hành hiệp trượng nghĩa của các đại hiệp trốn giang hồ. Sau khi giết người thì bỏ trốn, với võ công cao thì triều đình cũng không làm gì được.
Hán Vũ Đế nghe chuyện, nổi giận hạ chỉ truy xét nghiêm ngặt. Quách Giải biết thể nào cũng sẽ không được yên, nên đã đưa người nhà đến Hạ Dương lánh nạn, còn mình thì trốn đến Lâm Tấn. Ở Lâm Tấn có một người tên Tịch Thiếu Ông, vốn không quen biết Quách Giải, nhưng cũng nghe danh tiếng đại hiệp Quách Giải, nên đã giúp Quách Giải vượt quan ải trốn đi.
Sau đó Quách Giải chạy đến Thái Nguyên, bị người ta tố giác. Để cắt đứt mọi manh mối, Tịch Thiếu Ông đã tự sát, không chịu để quan phủ tra ra.
Về sau. Quách Giải bị bắt, nhưng khi tra xét, mọi tội danh của ông đều xảy ra trước kỳ đại xá, nên vốn dĩ không đáng xử tử. Tuy nhiên, ngự sử đại phu Công Tôn Hoằng nói:
“Quách Giải chỉ là một thường dân mà lại biết dùng quyền mưu và thế lực, chỉ vì chuyện nhỏ mà giết người. Dù hắn không trực tiếp nhúng tay, tội ấy còn nặng hơn giết người! Phải xử theo tội đại nghịch bất đạo.”
Thế là Quách Giải cùng toàn gia đình bị tru di tam tộc.
Trước đây, khi nói về cái chết của Đậu Anh, chúng tôi từng nhấn mạnh rằng nguyên nhân chính là do ông ta có mối quan hệ với Quán Phu – một đại hào cường địa phương. Mà chính loại người như Quán Phu lại là đối tượng mà Hán Vũ Đế muốn trấn áp.
Qua những chuyện như vậy có thể thấy: thế lực du hiệp và hào cường thời ấy thực sự không coi luật pháp triều đình ra gì, họ muốn hành hiệp trượng nghĩa, nên việc giết người cứ như chuyện thường tình trong chốn giang hồ. Hán Vũ Đế đã phải dùng biện pháp mạnh tay để răn đe. Điều thú vị là — tuy Hán Vũ Đế cực kỳ nghiêm khắc với giới hào cường, nhưng lại vẫn cho phép dân thường mua bán và mang theo vũ khí.
Có một lần, Thừa tướng Công Tôn Hoằng tâu rằng:
“Chỉ mười tên cướp giương cung, thì trăm quan quân cũng chẳng dám đến gần. Thần xin bệ hạ cấm người dân chế tạo, mua bán và cất giữ cung tên.”
Đề nghị ấy nghe rất giống cuộc tranh luận về việc cấm súng ở Mỹ ngày nay – tức là không cho người dân có vũ khí.
Nhưng lúc ấy có một người tên Ngô Khâu Thọ Vương đứng ra phản bác rằng:
“Những kẻ làm giặc vốn không màng pháp luật, dù có cấm cũng vẫn sẽ tự chế ra vũ khí để cướp bóc. Nếu dân không được giữ cung tên, thì khi bị cướp tấn công, họ biết lấy cái gì để mà tự vệ? Thần nghe rằng, bậc thánh nhân trị quốc không dựa vào việc cấm vũ khí, mà dựa vào việc nâng cao đạo đức con người.”
Hán Vũ Đế nghe vậy, gật đầu khen phải, rồi quay sang hỏi Công Tôn Hoằng:
“Khanh nghĩ sao?”
Công Tôn Hoằng cứng họng, không nói được lời nào nữa.
Từ đó, Hán Vũ Đế vẫn cho phép người dân được giữ vũ khí, một chính sách khá “khoan dung” – rất giống với Điều khoản thứ hai trong Hiến pháp Mỹ sau này: “Người dân có quyền mua và sở hữu súng để tự vệ.”
