Năm Chí Chính thứ 13 tức năm 1353), Chu Nguyên Chương chiếm được Trừ Châu. Đến năm Chí Chính thứ 15 (tức năm 1355), ông lại chiếm Hòa Châu. Tuy vậy, lãnh thổ khi ấy của ông vẫn chưa thể coi là rộng lớn. Nhưng cũng trong năm 1355, đã xảy ra hai biến cố hết sức trọng đại, làm thay đổi hoàn toàn địa vị và vận mệnh của Chu Nguyên Chương.
Năm 1353, Quách Tử Hưng qua đời. Trước đó, khi Quách Tử Hưng đến Trừ Châu để nương nhờ Chu Nguyên Chương, Chu Nguyên Chương từng chủ động giao lại binh quyền cho ông. Nay Quách Tử Hưng đã mất, Chu Nguyên Chương mới thực sự trở thành vị thống soái tối cao của đội quân này, không còn phải đứng dưới quyền bất kỳ ai trong nội bộ nữa.
Cũng trong năm 1353, Lưu Phúc Thông tìm được con trai của Hàn Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi, rồi tôn lên làm hoàng đế. Họ dựng nên một chính quyền với quốc hiệu là Tống, đặt niên hiệu là Long Phượng. Từ đó, Hàn Lâm Nhi được người đời gọi là Tiểu Minh Vương .
Trên danh nghĩa, Chu Nguyên Chương thuộc quyền chỉ huy của Tiểu Minh Vương. Hàn Lâm Nhi từng phong ông làm phó nguyên soái, nhưng Chu Nguyên Chương không chính thức tiếp nhận tước hiệu ấy. Tuy nhiên, ông vẫn sử dụng niên hiệu Long Phượng, qua đó biểu thị rằng về danh nghĩa thì vẫn thần phục chính quyền của Hàn Lâm Nhi.
Đối với Chu Nguyên Chương, năm Chí Chính thứ 15 (tức năm 1355) là một năm vô cùng then chốt, gần như mở ra bước ngoặt lớn trong sự nghiệp tranh hùng. Năm ấy, Chu Nguyên Chương chuẩn bị tiến đánh Thái Thạch. Thế nhưng nếu muốn công chiếm vùng đất này, thì phải có thủy quân. Đúng lúc đó, tại Sào Hồ có một đội thủy sư do Liêu Vĩnh An và Du Thông Hải thống lĩnh. Hai người này về sau đều trở thành danh tướng khai quốc của triều Minh. Còn khi đó, không rõ vì cơ duyên nào, họ đã dẫn theo một nghìn chiến thuyền đến quy thuận Chu Nguyên Chương. Nhờ vậy, Chu Nguyên Chương lần đầu tiên có được một lực lượng thủy quân hùng hậu thuộc, đặt nền móng cho những cuộc chinh chiến trên sông nước về sau.
Cũng trong năm ấy, thái tử Chu Tiêu chào đời. Đồng thời, Chu Nguyên Chương còn thu phục được Thường Ngộ Xuân, đây là đệ nhất dũng tướng trong thời khai quốc của Đại Minh. Chỉ trong một năm, Chu Nguyên Chương vừa có thủy quân, vừa có người kế nghiệp, lại có thêm một viên hổ tướng. Thế lực của ông bắt đầu bước sang một cục diện hoàn toàn mới.
Lúc bấy giờ, Chu Nguyên Chương muốn đánh chiếm Nam Kinh. Nam Kinh vốn là cố đô của sáu triều đại. Năm xưa, Tôn Quyền từng định đô tại đây; về sau, Đông Tấn cũng đóng đô ở Nam Kinh. Tiếp đó, Nam Triều gồm là Tống, Tề, Lương và Trần lần lượt lấy nơi này làm kinh đô. Bởi vậy, Nam Kinh được người đời gọi là cố đô của lục triều.
Đây không chỉ là vùng đất có địa thế hiểm yếu, mà còn được xem là nơi hội tụ linh khí sơn hà. Tử Kim Sơn đứng sừng sững như rồng cuộn hổ ngồi; núi sông ôm giữ che chở, khí tượng uy nghiêm, từ xưa đã được cho là vùng đất có vương khí. Chính vì thế, Chu Nguyên Chương quyết tâm phải đoạt lấy Nam Kinh, biến nơi này thành căn cơ để tranh đoạt thiên hạ. Và ngay trước khi vượt Trường Giang để mở cuộc chinh phạt, ông đã gặp được Thường Ngộ Xuân.
Thường Ngộ Xuân là người có “dung mạo khôi vĩ khác thường, sức mạnh hơn người, cánh tay dài, rất giỏi cung tiễn”. Thuở đầu, ông theo một nhóm người lên núi làm cường đạo. Nhưng sau một thời gian, Thường Ngộ Xuân nhận ra rằng cứ sống bằng việc cướp bóc như vậy thì chẳng có tiền đồ gì, nên quyết định tìm đến quy thuận Chu Nguyên Chương.
Theo ghi chép trong Minh sử , trên đường đi tìm Chu Nguyên Chương, Thường Ngộ Xuân vì đi bộ quá lâu nên vừa mệt mỏi vừa buồn ngủ, cuối cùng thì ngủ thiếp đi giữa chốn đồng hoang. Trong giấc mộng, ông thấy một đoàn thần nhân mặc giáp, tay cầm khiên, đồng loạt tiến đến lay ông tỉnh dậy và nói: “Dậy đi! Dậy đi! Chủ nhân của ngươi sắp tới rồi!” Thường Ngộ Xuân lập tức bừng tỉnh. Chẳng bao lâu sau, ông nhìn thấy một đội quân đang từ xa tiến lại, tướng thống lĩnh chính là Chu Nguyên Chương.
Thường Ngộ Xuân liền bước ra chặn trước đầu ngựa.
Chu Nguyên Chương hỏi:
“Ngươi muốn làm gì?”
Thường Ngộ Xuân đáp:
“Tôi muốn làm tiên phong.”
Chu Nguyên Chương nghe vậy thì nói: “Có phải ngươi không còn nơi nào kiếm cơm, nên mới tìm đến quân doanh của ta để có cái ăn hay không? Ấn tín tiên phong há có thể tùy tiện giao cho một kẻ vừa mới gặp? Thôi được, trước hết ngươi cứ theo ta đã.”
Từ đó, Thường Ngộ Xuân đi theo Chu Nguyên Chương, chính thức bước vào con đường chinh chiến.
Khi Chu Nguyên Chương tiến đánh Thái Thạch (nay thuộc Đương Đồ, tỉnh An Huy), quân Nguyên đã bố trí phòng thủ vô cùng nghiêm mật dọc bờ đông Trường Giang. Chiến thuyền lớn của Chu Nguyên Chương hoàn toàn không thể áp sát bờ; dù tiến đến vị trí gần nhất, vẫn còn cách bờ hơn ba trượng. Đúng lúc thế công bị chặn lại, Thường Ngộ Xuân một mình chèo thuyền vượt lên khỏi đội ngũ. Chu Nguyên Chương cất tiếng gọi lớn: “Thường Ngộ Xuân! Chẳng phải ngươi muốn lấy ấn tiên phong sao? Bây giờ chính là lúc để ngươi thể hiện bản lĩnh!”
Nghe vậy, Thường Ngộ Xuân lập tức thúc thuyền lao thẳng về phía bờ đối diện. Trong tay ông cầm một cây thương dài, vừa tới gần thì liền đâm mạnh về phía quân Nguyên. Một binh sĩ trên bờ đưa tay nắm chặt lấy mũi thương, định khống chế ông. Không ngờ Thường Ngộ Xuân lại thuận theo sức kéo ấy, mượn lực từ cây thương, tung người nhảy vọt khỏi thuyền. Thân hình ông lao lên giữa không trung, tựa như người dùng sào vượt qua vực sâu, rồi đáp thẳng xuống bờ bên kia.
Vừa đặt chân lên bờ, Thường Ngộ Xuân liền xông vào trận địa, ông dũng mãnh phi thường, một mình đánh tan đội quân Nguyên đang trấn giữ. Phòng tuyến vốn tưởng kiên cố, nhưng phút chốc bị phá vỡ, đại quân của Chu Nguyên Chương ngay lập tức tràn lên, cuối cùng chiếm được Thái Thạch.
Sau trận chiến ấy, Chu Nguyên Chương đã trao ấn tiên phong cho Thường Ngộ Xuân. Một đời mãnh tướng tung hoành sa trường, từ đó chính thức bắt đầu.
Thường Ngộ Xuân quả thực là một mãnh tướng dũng mãnh tuyệt luân. Bất kể phòng tuyến của đối phương kiên cố đến đâu, mỗi khi ông xông pha tiên phong, gần như chưa từng biết đến thất bại.
Trong cuộc Bắc phạt của Chu Nguyên Chương, có lần 5 vạn quân Nguyên chiếm giữ bờ bắc sông Lạc Thủy, chặn đứng đường tiến của quân Minh. Trước trận thế đông đảo ấy, Thường Ngộ Xuân đã một mình một ngựa lao thẳng lên phía trước. Hơn 20 quân Nguyên đồng loạt giương trường sóc, từ bốn phía đâm tới. Thường Ngộ Xuân không hề nao núng, ông giương cung bắn tên, lập tức hạ gục kẻ đứng đầu, rồi thúc ngựa xông thẳng vào trận địa. Thường Ngộ Xuân liên tục tả xung hữu đột, dũng mãnh phi thường, không gì cản nổi. Binh sĩ phía sau thấy chủ tướng dũng mãnh như vậy, thì lập tức ào ạt xông lên. Chỉ trong chốc lát, đội hình 5 vạn quân Nguyên đã bị đánh tan, phòng tuyến hoàn toàn rối loạn.
Mỗi khi Thường Ngộ Xuân xung phong, trước khí thế dũng mãnh của ông, không một kẻ nào có thể đứng vững; hễ đối mặt đều phải tan vỡ, lui dạt như cỏ rạp trước cuồng phong.
Sau khi Chu Nguyên Chương chiếm được Thái Thạch, tướng sĩ dưới quyền đều muốn nhân cơ hội cướp đoạt tài vật, rồi rút trở lại bờ tây Trường Giang. Nhưng Chu Nguyên Chương nói: “Chúng ta vất vả lắm mới vượt sang được bờ đông Trường Giang. Một khi quay trở lại, e rằng sau này sẽ không còn cơ hội tiến sang đây nữa.” Nói rồi, ông ra lệnh chặt đứt toàn bộ dây neo của chiến thuyền, mặc cho thuyền xuôi theo dòng nước trôi đi. Cách làm ấy có phần giống với Hạng Vũ năm xưa đã đập nồi chìm thuyền, tự đoạn tuyệt đường lui để buộc toàn quân phải quyết chiến đến cùng.
Thuyền đã trôi mất, muốn quay về cũng không được nữa. Bởi vậy, đại quân chỉ có thể tiếp tục tiến về phía trước. Sang năm sau, tức năm 1356, Chu Nguyên Chương đánh chiếm Nam Kinh, bắt được 3 vạn 6 nghìn quân địch.
Những người đầu hàng đều vô cùng lo sợ, cho rằng Chu Nguyên Chương có thể sẽ giết sạch. Bởi khi ấy binh lực dưới quyền ông vốn không nhiều, mà số hàng binh lại đông đến 3 vạn 6 nghìn người; muốn khống chế một lực lượng lớn như vậy, quả thực không phải chuyện dễ dàng.
Thế nhưng Chu Nguyên Chương lại chọn ra 500 tráng sĩ khỏe mạnh nhất trong số hàng binh ấy, rồi giao cho họ làm vệ sĩ thân cận. Đêm đến, ông không mặc áo giáp, cứ thế nằm ngủ trong đại trướng. Tiếng ngáy còn vang lên rất rõ, trong khi 500 hàng binh đều đứng canh ngay ngoài lều. Hành động ấy khiến hàng binh lập tức yên lòng. Bởi Chu Nguyên Chương dám giao tính mạng của mình vào tay họ, điều đó chứng tỏ ông thực sự không nghi ngờ, cũng không hề có ý định giết hại những người đã quy hàng.
Khi tiến vào Nam Kinh, Chu Nguyên Chương đã nói với dân chúng một lời phủ dụ. Cách hành xử của Chu Nguyên Chương có nhiều điểm rất giống Hán Cao Tổ – Lưu Bang. Những lời ông nói khi ấy cũng phần nào gợi nhớ đến chuyện Hán Cao Tổ từng đưa ra “ước pháp tam chương”, dùng những điều luật đơn giản mà rõ ràng để an định lòng dân.
Chu Nguyên Chương nói: “Ta đến đây không phải để quấy nhiễu bách tính, mà là để cứu lê dân khỏi cảnh khốn cùng. Ta sẽ không tùy tiện giết người, quân đội của ta cũng tuyệt đối không xâm phạm hay làm hại dân chúng. Những chính sách hà khắc của triều Nguyên mà các ngươi căm ghét, ta sẽ bãi bỏ. Còn những người hiền tài, có năng lực trong vùng, ta sẽ lấy lễ mà đối đãi, để họ làm quan, lo việc trị nước.”
Chính nhờ những lời ấy, cùng với quân kỷ nghiêm minh, Chu Nguyên Chương đã nhanh chóng giành được lòng tin và sự hoan nghênh của dân chúng Nam Kinh.

