Truyền kỳ Quản Trọng: Tể tướng lừng lẫy thời Xuân Thu

Tác giả: Thiên Phong | Cập nhật: 10/06/2024

Thời Xuân Thu, nước Tề xuất hiện một vị quân vương rất xuất chúng, ông cũng là một trong Ngũ bá thời Xuân Thu, đó chính là Tề Hoàn công. Tên của Tề Hoàn công là Khương Tiểu Bạch. Sở dĩ Tề Hoàn công có thể xưng bá, là vì ông có một Tể tướng rất xuất sắc, đó chính là Quản Trọng. Quản Trọng có người bằng hữu rất tốt là Bào Thúc Nha.

Bào Thúc Nha đối xử với Quản Trọng không chỉ là có ơn tri ngộ, mà còn có ơn cứu mạng. Trong “Quản Yến liệt truyện” có ghi lại một đoạn tự thuật của Quản Trọng rằng: “Ta lúc nghèo khó, đã từng buôn bán với Bào Thúc Nha”. 

Khi Quản Trọng và Bào Thúc Nha cùng nhau buôn bán, mỗi lần chia tiền thì Quản Trọng thường lấy nhiều hơn một chút. Quản Trọng bỏ vốn rất ít nhưng lại lấy nhiều hơn. Nhưng Bào Thúc Nha không cho rằng Quản Trọng là con người tham lam, bởi vì ông biết nhà Quản Trọng rất nghèo.

Quản Trọng đề xuất ý kiến kinh doanh, rằng hai người nên buôn bán thế này thế kia. Có lần ông đề xuất ý kiến ba lần nhưng thất bại cả ba. Nhưng Bào Thúc Nha lại không cho rằng Quản Trọng là một con người ngu xuẩn, bởi vì ông biết kế hoạch đề ra thì có lúc thu lợi, cũng có lúc gặp bất lợi.

Quản Trọng đã từng phò tá ba vị đại thần, nhưng cả ba lần đều bị đuổi đi, nhưng Bào Thúc Nha không cho rằng Quản Trọng là người không có tiền đồ, mà Bào Thúc Nha lại cho rằng: con đường công danh của người bằng hữu này chỉ là chưa đến lúc mà thôi.

Khi đánh trận, Quản Trọng từng thất bại nhiều lần. Mỗi lúc đánh thua, ông đều liều mạng chạy, hơn nữa lại chạy về rất nhanh. Bào Thúc Nha không cho rằng Quản Trọng là kẻ nhát gan. Ông biết rằng Quản Trọng còn có mẹ già, do đó người bạn của mình phải giữ mạng, phải về nhà để tận hiếu.

Quản Trọng phò tá Công tử Củ, nhưng sau khi Công tử Củ thất bại và mất mạng, Quản Trọng không chết theo chủ để tỏ lòng trung, mà trái lại, ông đến phò tá cho cho kẻ địch của Công tử Củ, chính là đến chỗ Khương Tiểu Bạch để làm Tể tướng. 

Nhưng Bào Thúc Nha không cho rằng Quản Trọng là người vô liêm sỉ, bởi vì Bào Thúc Nha biết rằng Quản Trọng là người có tài năng, có chí hướng, có hoài bão; do đó không thể vì mất chủ mà không cống hiến tài trí để giúp nước giúp dân.

Vì Bào Thúc Nha đối xử với Quản Trọng như thế, cho nên Quản Trọng mới cảm thán mà thốt ra câu này: “Sinh ra ta là cha mẹ, nhưng hiểu ta chỉ có Bào Thúc Nha”. Bào Thúc Nha quả thật là tri kỷ của Quản Trọng. Ông không chỉ có ơn tri ngộ, mà còn có ơn cứu mạng đối với Quản Trọng. Rốt cuộc câu chuyện này như thế nào?

Chuyện kể rằng, năm 698 TCN, Tề Tương công kế vị. Tề Tương công là vị vua mà đạo đức hết sức bại hoại. Ông thông gian với em gái là Văn Khương, rồi hạ sát em rể là Lỗ Hoàn công. Sau đó lại vu tội cho Bành Sinh. Ông là con người không có nhân nghĩa, thêm vào đó lại đắc tội với hai vị đại thần là Liên Xưng và Quản Chí Phủ. Để rồi sau này, Liên Xưng, Quản Chí Phủ và em họ của Tề Tương công là Công Tôn Vô Tri, ba người họ cùng nhau mưu phản, tiêu diệt Tề Tương công.

Sau khi Tề Tương công qua đời, Công Tôn Vô Tri trở thành quân vương nước Tề, nhưng vì đức hạnh không đủ nên các đại thần đều không phục. Sau này, một vị đại thần là Ủng Lẫm đã hạ sát Công Tôn Vô Tri. Khi đó, ngôi vương bỏ trống, nước Tề lập tức như rắn mất đầu. Bạo loạn liên tục, thật là làm cho người ta cảm thán.

Tề Tương công có hai người em trai, một người tên là Củ, người nữa tên là Tiểu Bạch. Thời bấy giờ, hai người em trai thấy anh mình là Tề Tương công làm chuyện thương thiên hại lý, nên cả hai biết rằng sẽ có tai họa, do đó họ lánh nạn sang nước khác. Công tử Củ đến nước Lỗ, còn Công tử Tiểu Bạch đến nước Cử.

Lúc đó, Bào Thúc Nha và Quản Trọng có thương lượng với nhau rằng: “Công tử Củ và Công tử Tiểu Bạch, hai người đó chắc chắn sẽ có một người làm vua nước Tề. Hai người chúng ta, mỗi người phò tá một vị”. Thế là Quản Trọng đến nước Lỗ, phò tá Công tử Củ, còn Bào Thúc Nha đến nước Cử, trợ giúp Công tử Tiểu Bạch.

Sau này, khi nước Tề phát sinh nội loạn, tin tức này đều đến tai Công tử Củ và Công tử Tiểu Bạch. Thế là hai vị Công tử gấp rút tiến về đô thành của nước Tề. Bởi vì lúc này vương vị còn trống, người nào đến trước thì sẽ làm vua.

Quản Trọng biết Công tử Tiểu Bạch ở nước Cử là gần nước Tề hơn. Ông bèn mang theo binh mã, chặn đường của Công tử Tiểu Bạch, mục đích là không cho Công tử Tiểu Bạch đến được nước Tề sớm hơn Công tử Củ. Ông đã mang binh mã đến trước mặt Công tử Tiểu Bạch, chẳng nói chẳng rằng, giương cung lắp tiễn mà bắn Công tử Tiểu Bạch. Mà Quản Trọng vốn là tay thiện xạ, sau khi tên bắn ra, Công tử Tiểu Bạch hét to một tiếng, rồi thổ huyết, ngã gục trên xe.

Quản Trọng cho rằng mình đã bắn hạ được Tiểu Bạch, nên khi trở về ông nói với Công tử Củ rằng: “Chúng ta không cần gấp, chứ thong thả mà đi, dù thế nào thì Công tử Tiểu Bạch đã bị thần bắn hạ rồi”. 

Quản Trọng dù bắn tên rất chuẩn, nhưng “người tính không bằng Trời tính”. Công tử Tiểu Bạch khi đó mang đai lưng, giống như thắt lưng bây giờ, mà phần đầu của đai lưng làm bằng đồng, mũi tên của Quản Trọng đã bắn trúng đai lưng bằng đồng của công tử Tiểu Bạch, cho nên ông không bị thương. 

Mũi tên bắn trúng đai lưng, Tiểu Bạch liền cắn lưỡi để thổ huyết, sau đó nằm sấp trên xe ngựa và giả chết. Quản Trọng cho rằng Công tử Tiểu Bạch đã vong mạng, nên khi về mới nói với Công tử Củ là cứ thong thả mà đi. Đợi đến lúc Quản Trọng đi khỏi, Công tử Tiểu Bạch liền ngày đêm nhanh chóng đến nước Tề, sau khi về đã nhận chức, lên làm quân vương. Đây chính là Tề Hoàn Công, một trong 5 bá chủ lừng lẫy thời Xuân thu.

Sau khi ông đăng cơ thì nước Lỗ rất tức giận, bởi vì nước Lỗ muốn lập Công tử Củ để nối ngôi. Thế là giữa nước Tề và nước Lỗ xảy ra một trận chiến. Trận này nước Tề giành thắng lợi, họ yêu cầu nước Lỗ phải giao ra Công tử Củ. Công tử Củ nghe vậy bèn tự vẫn.

Thời điểm đó, Bào Thúc Nha cũng đến nước Tề, bởi vì ông phò tá Công tử Tiểu Bạch. Ông nói có với Công tử Tiểu Bạch rằng: “Thần may mắn được theo phò tá quân vương, quân vương ngài cuối cùng cũng đăng cơ. Việc cai quản nước Tề thì chỉ cần Cao Hề và Thúc Nha thần là đủ. Nhưng quân vương mà muốn tranh bá, nếu không có Quản Trọng thì không thể nào làm được”.

Công tử Tiểu Bạch vốn rất căm giận Quản Trọng, bởi vì khi Quản Trọng tiếp cận Tiểu Bạch thì chẳng nói chẳng rằng, cứ thế mà bắn một tiễn, suýt nữa khiến ông mất mạng. Nhưng Tiểu Bạch nghe Bào Thúc Nha tiến cử, liền quyết định mời Quản Trọng đến nước Tề, ông còn đối đãi với Quản Trọng như là bậc cha chú. Tiểu Bạch gọi Quản Trọng là Quản Phủ, tức là để chỉ những người tôn kính.

Qua sự việc này, ta thấy được hai điều về Công tử Tiểu Bạch, tức là Tề Hoàn Công. Thứ nhất, ông là người có chí hướng cao xa, muốn xưng bá thiên hạ. Thứ hai, ông là người khoan dung độ lượng, dù Quản Trọng đã làm ông suýt mất mạng, nhưng ông vẫn trọng dụng Quản Trọng. Đây là tố chất cần phải có của một người muốn thành đại sự. Quản Trọng về phò tá Tề Hoàn công vào năm 685 TCN.

Khổng Tử từng bàn luận về Quản Trọng với các học trò của mình, ông nói: “Người như Quản Trọng, đã từng chín lần hội họp Chư hầu; cải chính thiên hạ, không dựa vào bạo lực mà dựa vào nhân đức. Nếu Quản Trọng không phải là người nhân đức, vậy thì ông ta sao có thể làm những sự việc to lớn vĩ đại như vậy?”. 

Tử Cống hỏi thầy của mình rằng: “Người như Quản Trọng, khi chủ là Công tử Củ qua đời, ông ta không chết theo chủ; mà lại còn đi phò tá kẻ thù là Công tử Tiểu Bạch. Người như thế có được tính là “nhân” không?”.

Khổng Tử mới trả lời rằng: “Quản Trọng phò tá Tề Hoàn công, mà Tề vương đứng đầu trong các Chư hầu, cải chính thiên hạ. Nếu không có ông ấy thì chúng ta bây giờ vẫn bị uy hiếp bởi các bộ tộc du mục. Nếu không có Quản Trọng thì dưới ách thống trị của các bộ tộc ngoài Trung Nguyên, thì liệu đầu tóc chúng ta có còn chỉnh tề, hay là rối bời; quần áo chúng ta gọn gàng hay là mặc lộn trái giống như chúng? Cho nên, Quản Trọng đã vượt ra những điều tín nghĩa trong phạm vi nhỏ, để rồi đóng góp công sức nhằm làm những việc lớn hơn, mang lại lợi điều lợi cho nước, cho dân”.

Quản Trọng là một vị Tể tướng nổi tiếng trong lịch sử. Ông có lẽ là người đầu tiên lấy những phương pháp về quản lý đất nước hệ thống hóa lại, rồi lưu giữ. Trong lần đối thoại đầu tiên của mình với Tề Hoàn công, ông đã nói: “Lễ, nghĩa, liêm, sỉ là bốn sợi dây (phép tắc, kỷ cương) ràng buộc quốc gia. Bốn sợi dây này không chặt thì quốc gia diệt vong”. 

Sau này, Quản Trọng còn nói với quân vương làm thế nào để quý trọng dân chúng, làm thế nào để ngụ binh ư nông, làm thế nào để phát triển thương nghiệp buôn bán, làm thế nào để gây quỹ cho quân đội, làm thế nào để trưng binh, để triệu tập binh lính khi cần thiết, làm thế nào để xử lý các mối quan hệ ngoại giao và đối ngoại, cuối cùng là làm thế nào để tôn trọng Thiên tử rồi đánh đuổi mọi rợ, sau này thành tựu bá nghiệp.

Quản Trọng rất coi trọng việc giữ gìn chữ tín. Vào năm thứ 4 đời vua Tề Hoàn công, Tề Hoàn công cùng Lỗ Trang công liên kết đồng minh ở đất Kha. Hai người họ cử hành đại tiệc nơi đó.

Trong buổi tiệc, đột nhiên có một việc rất bất ngờ, thủ hạ của Lỗ Trang công là Tào Mạt, anh ta với thân thủ rất nhanh, đã rút thanh đoản kiếm kề vào cổ Tề Hoàn công rồi nói: “Mấy năm gần đây, nước Tề và nước Lỗ giao chiến, nước Tề đã chiếm rất nhiều đất của nước Lỗ. Hiện tại tôi muốn ông trả lại những phần đất đã chiếm của nước Lỗ, giao trả lại cho cố quốc chúng tôi”.

Tề Hoàn công biết là nếu không đồng ý thì sẽ gặp chuyện lớn ngay lập tức. Tề Hoàn công vì để bảo toàn tính mạng nên vội nói: “Được được. Ta sẽ đáp ứng cho ngươi”. 

Tề Hoàn công nói xong, Tào Mạt cất đoản kiếm, sau đó bình tĩnh trở về chỗ, tiếp tục buổi tiệc như chưa hề có chuyện gì xảy ra.

Đương nhiên Tề Hoàn công uất ức lắm, đợi đến khi tàn tiệc, ông mới nói với Tể tướng Quản Trọng rằng: “Hôm nay ta bị bức bách, nên dưới tình huống bị uy hiếp, mới nói ra những lời đáp ứng Tào Mạt. Nhưng ta thực sự không muốn trả lại những vùng đất đó cho nước Lỗ”. 

Sau khi nghe xong, Quản Trọng mới nói rằng: “Tham cái lợi nhỏ có thể thoải mái nhất thời, nhưng lại mất đi sự tín nhiệm và viện trợ của Chư hầu. Như vậy, cái được chẳng bõ cho cái mất”. Thế là Tề Hoàn Công tin theo Quản Trọng, trả lại những vùng đất kia cho nước Lỗ.

Ngoài việc coi trọng chữ Tín, Quản Trọng cũng là người chú trọng đến “lễ”. Ông rất tôn kính vương thất nhà Chu. Năm 680 TCN, dưới sự phê chuẩn của Thiên tử nhà Chu, Tề Hoàn công cầm cờ hiệu của Chu Thiên tử đi thảo phạt nước Tống. Kết quả nước Tống không dám động binh, đành phải đầu hàng. Tề Hoàn công giành thắng lợi.

Tề Hoàn công cầm cờ hiệu Thiên tử để mệnh lệnh Chư hầu, có gì đó giống giống với “chèn ép Thiên tử, mệnh lệnh Chư hầu” như Tào Tháo ở thời Tam quốc. Nhưng trong “Sử ký”, việc này được ghi chép là “phụng lệnh thiên tử, sai khiến Chư hầu”. “Phụng” ở đây là chỉ sự tôn kính bậc bề trên. Tề Hoàn công làm được như vậy, phần nào có sự góp ý tư vấn từ Tể tướng Quản Trọng.

Tề Hoàn công có chín lần họp Chư hầu. Ba lần là “binh xa chi hội”, tức là nước Tề chiến đấu giành thắng lợi, sau đó các quốc gia khác hội họp, liên kết đồng minh. Còn có sáu lần “y thường chi hội”, nghĩa là dựa vào đạo đức to lớn của nước Tề mà cảm hóa nước khác, từ nó các nước ấy kết liên minh với nước Tề.

Trong Hội họp Chư hầu lần thứ chín, Thiên tử nhà Chu đặc biệt đem đồ tế lễ tặng cho Tề Hoàn công, đồng thời ban thưởng thêm cho ông cung tên màu đỏ, và xe mà Chu Thiên tử dùng để di chuyển. Khi đó, Thiên tử nhà Chu có lệnh rằng: “Khi Tề Hoàn công tiếp nhận ban thưởng thì không cần quỳ gối tạ ơn”.

Tề Hoàn công sinh năm 715 TCN, đến năm 651 TCN, trong lần hội họp Chư hầu lần thứ chín thì ông đã 64 tuổi rồi. Dù Tề Hoàn công khi đó đã lớn tuổi và Chu Thiên tử nói không cần hành lễ, nhưng Quản Trọng vẫn nhắc rằng: “Ngài không thể không quỳ gối. Bởi vì sở dĩ ngài được như ngày hôm nay chính là vì tôn trọng Thiên tử, tôn trọng vương thất nhà Chu. Do đó, lễ không thể phá bỏ”. Quản Trọng đã nhắc nhở Tề Hoàn công là khi nhận lễ vật hay nhận lệnh của Chu Thiên Tử thì hãy quỳ xuống nhận chỉ hoặc tạ ơn.

Từ hai câu chuyện Quản Trọng nhắc nhở Tề Hoàn công, một lần về chuyện trả lại đất cho nước Lỗ, một nữa là nhắc nhở Tề vương hãy kính trọng Chu Thiên tử, ta thấy Quản Trọng là người rất xem trọng “tín” và “lễ”.

Ngoài tôn trọng “tín”, “lễ”, một thành tựu nữa của Quản Trọng là “tôn kính quân vương, bài trừ di rợ”. “Di rợ” ở đây chỉ các dân tộc thiểu số xâm lăng Trung Nguyên. Nước Hình và nước Vệ là hai quốc gia rất nhỏ, khi bị dân tộc thiểu số xâm lược, họ không chống trả nổi, nên cầu cứu Tề Hoàn công.

Năm 663 TCN, có một dân tộc thiểu số là Sơn Nhung đã xâm phạm nước Yên. Khi đó, nước Yên đến cầu cứu nước Tề. Thế là Tề Hoàn công phát binh giúp đỡ nước Yên, cuộc chiến đó rất gian khổ và kéo dài khoảng nửa năm.

Sau khi thắng trận, nước Tề còn diệt thêm hai nước nữa là Cô Trúc và Linh Chi. Nước Tề diệt nước Linh Chi trước rồi mới diệt nước Cô Trúc. Trong trận chiến với nước Cô Trúc, có một lần quân Tề hành quân trong sa mạc, đến đêm thì bị lạc đường, không phân biệt được đâu là Đông Tây Nam Bắc. Thêm nữa, lương thực và nước uống lúc ấy đã sắp dùng hết.

Trước khi đánh trận, Quản Trọng có nghiên cứu bản đồ. Ông cho rằng để vượt qua sa mạc “chết chóc” này, thì quân Tề phải hướng về nước Chung Vô. Khi đó, Quản Trọng nói với Tề Hoàn công rằng: “Hiện tại trong quân chúng ta có một vài con ngựa già xứ Chung Vô, chúng ta hãy tháo yên cương rồi thả nó ra, sau đó đi theo ngựa già dẫn đường thì có thể ra khỏi sa mạc này”. Thế là quân lính nghe theo Quản Trọng, tháo yên cương những con ngựa già của nước Chung Vô rồi thả ra, đại quân nước Tề nối đuôi đi theo những con ngựa ấy, cuối cùng thật sự đã ra khỏi sa mạc. Câu chuyện này lưu lại thành một câu thành ngữ là “ngựa già biết đường”.

Lần giúp nước Yên này, Tề Hoàn công dẹp được hai nước Linh Chi và Cô Trúc. Tề Hoàn công đã hào phóng cắt một khoảnh đất rất lớn là 500 dặm, giao tặng cho nước Yên. Từ đó, nước Yên mới có thể trở thành quốc gia có đất đai rộng lớn trong thời Xuân Thu.

Tề Hoàn công thành tựu bá nghiệp, tấm lòng rộng rãi hào phóng, nhưng đến cuối đời ông lại mắc một sai lầm. Đó là tin dùng nịnh thần. Những tên nịnh thần như Dịch Nha, Thụ Điêu đã làm loạn triều chính. Cuối cùng, Tề Hoàn công bị những tên gian thần ấy hãm hại. Sau khi Tề Hoàn công băng hà, những người con của ông cũng đấu đá lẫn nhau để tranh giành vương vị, do đó, cơ nghiệp to lớn trong chốc lát đã trở nên suy yếu.

Tề Hoàn Công có ba người vợ là: Vương cơ, Từ cơ và Thái cơ, nhưng không ai trong số ba người này sinh con trai. Trong hậu cung của Hoàn Công có rất nhiều phi tần, con trai có hơn mười đứa, sáu phi tần được sủng ái; năm trong số sáu người này sau đó đã tranh giành vương quyền cho con trai của họ, khiến nước Tề rơi vào hỗn chiến.

Hoàn Công phong con trai của Trịnh cơ là Hiếu Công Chiêu làm thái tử, nhưng ông lại sủng ái đầu bếp Dịch Nha và hoạn quan Thụ Đao, cả hai đều được Trưởng Vệ cơ sủng ái, họ từng tiến cử Vô Khuy.

Khi Quản Trọng bị ốm, Tề Hoàn Công đến thăm và hỏi: “Từ nay trở đi, ai trong số các quần thần có thể giúp ta?”

Quản Trọng nói: “Không quan nào hơn nhà vua”. 

Hoàn Công nói: “Dịch Nha thì sao?”

Quản Trọng nói hãy tránh xa Dịch Nha. 

Tề Hoàn Công nói: “Dịch  Nha đã nấu thịt con trai cả của mình, cho ta nếm thịt người, lòng trung thành của hắn liệu có thể khả nghi sao?” 

Quản Trọng đáp: “Yêu thương bảo vệ con mình là thường tình của con người, nhưng hắn đã nhẫn tâm hại cả con mình, một người nhẫn tâm như thế, hắn thật sự có thể yêu thương bảo vệ ngài sao?!”

Hoàn Công lại hỏi: “Khai Phương là người thế nào?”

Quản Trọng đáp: “Khai Phương là hoàng tử nước Vệ, hắn xa cách họ hàng thân thích, từ bỏ đãi ngộ hậu hĩnh của thái tử mà chạy đến nước Tề làm quan cho ngài, suốt mười lăm năm mà không đoái hoài đến người thân, đây không phải là thường tình của con người, loại người ngày thật khó cởi mở và trung thực được”.

Hoàn Công lại hỏi: “Còn Thụ Đao thì sao?” 

Quản Trọng nói: hãy tránh xa Thụ Đao.

Tề Hoàn Công hỏi: “Thụ Đao là thái giám trong cung, có nghi ngờ gì về lòng trung trinh của hắn không?”

Quản Trọng đáp: “Người ta đều yêu thân thể của mình, nhưng hắn lại nhẫn tâm tự thiến để vào cung, đây là hành video phi nhân tính, ngay cả bản thân mình cũng có thể tự tàn hại. Hắn thật sự có thể trung trinh với quân vương sao?!”

Thế là Tề Hoàn Công đuổi cả ba người đó đi. Một thời gian sau, Quản Trọng cũng mất.

Sau ba năm, Tề Hoàn Công cảm thấy ăn uống không đủ thỏa mãn, tâm tình không vui vẻ, không quản lý tốt việc hậu cung và quốc sự, nên lại gọi ba người đó về. Dịch Nha, Thụ Đao và Khai Phương sau đó ngày càng chuyên quyền. Sau đó Tề Hoàn Công lâm bệnh. Lúc này, năm hoàng tử lập phe phái riêng để tranh giành nhau, xảy ra hỗn chiến, nội cung đại loạn.

Chẳng bao lâu, Tề Hoàn Công lâm bệnh nặng. Dịch Nha và Thụ Đao được Tề Hoàn Công sủng ái, cũng được Vệ Trưởng cơ sủng ái, đợi đến cơ hội, họ hợp sức tạo phản, hạ sát tất cả quần thần của nước Tề, rồi lập Vô Khuy, con trai của Vệ Trưởng cơ lên làm vua. Họ chặn cổng cung điện của Tề Hoàn công, xây một bức tường cao bên ngoài cổng để ngăn người khác đi qua. Khai Phương lấy đất và dân cả 700 xã của nước Tề để trả về cho nước Vệ. Thái tử sau đó phải chạy sang nước Tống để lánh nạn.

Tề Hoàn Công bị giam lỏng trong cung, một mình đơn độc. Một hôm, có một tỳ nữ lẻn vào phòng ngủ của Tề Hoàn Công qua một cái lỗ. Hoàn Công thều thào nói: “Ta muốn ăn”. Tỳ nữ nói: “Thiếp không có thức ăn nào để có thể cho ngài”. Hoàn Công nói: “Ta muốn uống nước”. Tỳ nữ nói: “Thiếp không thể lấy thức ăn và nước uống cho ngài”. 

Lặng người một lúc, Tề Hoàn Công hỏi: “Tại sao?” 

Tỳ nữ trả lời: “Dịch Nha và Thụ Đao hợp lực tạo phản, chặn cổng cung điện, xây tường cao ngăn không cho ai vào, nên thiếp không cách nào lấy được”.

Tề Hoàn Công buồn bã thở dài, nước mắt giàn giụa, rồi ông nói: “Ôi, điều mà thánh nhân nhìn thấy đang ở ngay trước mặt! Người sắp chết hữu tri, ta làm sao có thể đối mặt với Quản Trọng đây?” Thế là Tề Hoàn Công dùng tay áo che mặt lại. Cuối cùng, vị bá chủ một thời đã chết đói chết khát trong chính cung điện của mình.

Khi ông qua đời, cuộc tranh giành quyền lực giữa các con trai diễn đã ra gay gắt, họ tấn công lẫn nhau, trong lúc hỗn chiến, cung điện không có ai, không ai dám chôn cất ông. Thi thể của Tề Hoàn Công phủ đầy trùng, chỉ được che bằng một cánh cửa gỗ dương, họ để như vậy hơn hai tháng, côn trùng từ xác thối bò ra ngoài cửa cung.

Mãi đến tháng 12 năm đó, hoàng tử Vô Khuy giành được vị trí số một, Tề Hoàn Công mới có thể được chôn cất.

Tề Hoàn Công một đời anh hùng, nhưng cuối đời lại không nghe theo Quản Trọng, lại tin dùng nịnh thần. Cuối cùng ông phải chịu một cái kết không thể nào cay đắng hơn.

Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, hẹn gặp lại bạn trong những tập tiếp theo.

Đọc thêm:

Bình luận

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}