Năm 278 TCN, đại tướng nước Tần là Bạch Khởi đã đánh chiếm đô thành của nước Sở, Sở vương phải dời đô về Trần (nay thuộc huyện Hoài Dương tỉnh Hà Nam). Đồng thời quân đội chủ lực của Sở cũng bị tiêu diệt.
Nước Hàn trước nay vẫn nhỏ yếu. Nước Ngụy từ khi mất Tây Hà, từ năm 340 TCN trở về sau, có hơn 60 năm liên tiếp bại trận. Còn nước Triệu lại quật khởi nhanh chóng ở phía Bắc, trở thành quốc gia duy nhất cuối thời Chiến Quốc có khả năng chống lại nước Tần. Vậy thì nước Triệu đã quật khởi như thế nào?
Sự quật khởi của nước Triệu bắt đầu từ Triệu Túc hầu, Triệu Túc hầu là quân vương nước Triệu, ông đã ủng hộ chính sách hợp tung của Tô Tần, nhưng sau “Hiệp ước Hoàn thuỷ”, không lâu sau Triệu Túc hầu lâm bệnh rồi băng hà, Thái tử Triệu Ung kế vị, ông là Triệu Vũ Linh vương nổi tiếng trong lịch sử.
Khi Triệu Vũ Linh vương kế vị, nước Triệu còn chưa hùng mạnh. Sau khi ông kế vị được 8 năm, đương thời có một cuộc vận động là Ngũ quốc tương vương. Tần và Sở đều đã xưng vương rồi, năm nước còn lại là Hàn, Tề, Nguỵ, Yên và Trung Sơn, họ đều lấy Hầu tước và Công tước đổi thành Vương tước. Khi đó, Triệu Ung không tham dự, ông nói: “Nước Triệu ta nhỏ yếu như vậy, không có thực lực, hà tất cần hư danh”. Do đó ông để người khác gọi ông là “quân” (君), còn Triệu Vũ Linh vương trên thực tế là thuỵ hiệu của ông (諡號: là tên đặt cho quân vương sau khi mất).
Triệu Ung khai khẩn biên cương, mở rộng đất đai nên đã giải quyết được vấn đề xâm lăng của các dân tộc thiểu số phương Bắc. Theo cách đặt tên thuỵ, khắc chế được hoạ loạn thì gọi là Vũ (武), cho nên thuỵ hiệu của ông có chữ Vũ.
Nhưng ông lại phạm một sai lầm khiến con trai trưởng và bản thân ông chết thảm ở chính biến cung đình; theo cách đặt thụy hiệu, loạn mà không cách nào chỉnh trị được thì gọi là Linh (靈). Từ cách phân tích trên, trong thuỵ hiệu của ông có cả hai chữ Vũ Linh, vậy nên ông là Triệu Vũ Linh vương (趙武靈王).
Triệu Vũ Linh vương kế vị vào năm 325 TCN, khi đó ông khoảng 15 tuổi. Lúc ông vừa mới kế vị, Tần, Sở, Yên, Nguỵ, Tề tổng cộng 5 nước, mỗi nước phái một vạn quân đến, nói là đến để truy điệu phụ thân của Triệu Ung.
Nhưng nếu các nước thật sự tôn kính phụ thân của Triệu Ung, họ chỉ cần phái một sứ thần mang theo một ít binh mã là được. Họ đem quân lớn đi như vậy nhất định có âm mưu, chính là muốn nhân lúc này diệt nước Triệu, phân chia đất nước Triệu.
Không biết lúc đó Triệu Ung đã dùng biện pháp gì để khiến âm mưu xâm lược của 5 nước ngoại bang thất bại, nhưng lúc đó quả thực Triệu Ung đã nhận phải uy hiếp rất lớn.
Sau đó, ông bái Phì Nghĩa làm thầy, hy vọng nước Triệu sẽ cường đại trở lại. Thời gian đó, nước Triệu đã phát sinh mấy cuộc chiến với nước Tần và nước Tề, cứ đánh là thua, thành trì đều bị chiếm đoạt, binh sĩ hàng vạn người tử trận là chuyện bình thường.
Triệu Ung muốn quốc gia hùng mạnh tất phải giải quyết ba vấn đề. Khi đó ở phía Bắc nước Triệu có một quốc gia là Trung Sơn, quốc gia này phân chia nước Triệu thành hai vùng Đông – Tây. Nước Trung Sơn rất lớn, năm xưa Ngụy Văn hầu phái Nhạc Dương đã công hạ được Trung Sơn, nhưng vì Trung Sơn quá rộng, nước Nguỵ sau này lại suy yếu, cho nên rất nhanh sau đó, Trung Sơn đã phục quốc.
Triệu Ung nói: “Nước Trung Sơn như trong lòng nước Triệu, biến nước Triệu thành hình chữ Ao (凹), hai phía đông – tây của nước Triệu muốn giao thông qua lại ắt phải qua Trung Sơn, hoặc phải từ Trung Sơn vòng xuống hướng nam”. Cho nên, Triệu Ung cho rằng, Trung Sơn là mầm hoạ bên trong. Đây là vấn đề thứ nhất mà ông phải giải quyết.
Vấn đề thứ hai là phía bắc nước Triệu có rất nhiều dân tộc thiểu số, sức chiến đấu của họ lại vô cùng mạnh. Các quốc gia dân tộc thiểu số phía Bắc nước Triệu đều rất hung hãn, gồm có các bộ lạc như Bắc Hồ, Lâu Phiền, Lâm Hồ… Thời đó, nước Triệu không ngừng phát sinh chiến tranh với các bộ tộc thiểu số, hầu như cứ đánh là thua.
Vấn đề thứ ba là sự khác biệt trong văn hoá hai miền nam bắc của nước Triệu. Phía nam nước Triệu là đô thành Hàm Đan, là vùng có văn minh canh tác nông nghiệp, thuộc văn minh của Trung Nguyên. Còn phía bắc lại là văn hoá du mục. Vì thế, đại thần trong nước Triệu cũng phân thành hai phái, một phái khuynh hướng văn hoá nông nghiệp, ví như chú của Triệu Ung là Triệu Thành; còn thầy Phì Nghĩa thì mang khuynh hướng văn hoá du mục.
Sau khi Triệu Vũ Linh vương kế vị được 19 năm, Tần Vũ vương băng hà, em trai vua Tần là Tần Chiêu Tương vương kế vị. Không lâu sau, nước Tần phát sinh chính biến, Triệu Vũ Linh vương nhân lúc nước Tần có nội loạn, đồng thời quan sát phía Tây tạm thời không có nguy hiểm, ông quyết định đầu tiên diệt người Hồ, rồi Trung Sơn, sau đó hoạch định chiến lược tranh bá thiên hạ, mà một bước quan trọng là “mặc trang phục người Hồ, chú trọng huấn luyện kỵ binh và kỹ năng bắn cung”. Khi đó, ông gọi đợt thay đổi này là Hồ phục kỵ xạ.
Nghĩa là sẽ không dùng những chiến xa truyền thống, mà cải tiến vận dụng cách huấn luyện kỵ binh của người Hồ để xây dựng quân đội chủ lực, đồng thời cũng cải trang ăn mặc theo trang phục người Hồ. Lần quyết định này được thầy Phì Nghĩa hỗ trợ.
Triệu Vũ Linh vương sau khi quyết định, ông bị quý tộc trong nước phản đối rất mạnh, trong đó sự phản đối lớn nhất chính là từ người chú Triệu Thành – là một người rất có uy vọng trong giới quý tộc nước Triệu. Triệu Vũ Linh vương nói với chú rằng: “Nếu chúng ta không ‘Hồ phục kỵ xạ’, chúng ta sẽ nhục nhã vì bị thất bại hết lần này đến lần khác, hoạ vong quốc sẽ theo đó mà đến”.
Triệu Thành sau đó được Triệu Vũ Linh vương thuyết phục, cũng quyết định mặc y phục người Hồ, rồi lần lượt các quý tộc ở nước Triệu đều mặc Hồ phục.
Do kỵ binh có năng lực tác chiến ưu việt, có lực xung kích vô cùng mạnh mẽ và tính cơ động cao, thêm nữa cung tiễn là vũ khí bắn xa, đã khiến binh lực nước Triệu trong thời gian ngắn đạt được sức mạnh cường đại, đồng thời vì toàn nước Triệu đều mặc Hồ phục, nên tiếp cận được với văn hoá dân tộc thiểu số, có một số dân tộc thiểu số bèn đến nương nhờ nước Triệu, nếu không nương nhờ sẽ bị nước Triệu tấn công.
Nước Triệu trải qua khoảng mười năm “Hồ phục kỵ xạ”, hầu như trong mười năm là đánh đâu thắng đó, diệt được mối lo là Trung Sơn – một quốc gia bằng nửa nước Hàn – rồi mở rộng được ngàn dặm đất. “Hồ phục kỵ xạ” đã cho thấy hiệu quả rất lớn, Triệu Vũ Linh vương sau khi diệt các dân tộc thiểu số và Trung Sơn, ông đã bắt đầu tu sửa và xây dựng trường thành để chặn lại vùng biên giới phía bắc.
Thời Chiến Quốc, để chống lại sự xâm lăng của các dân tộc thiểu số, nước Triệu, nước Yên đều xây trường thành. Sau này khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa, thì xây trường thành chính là liên kết lại những trường thành thời Chiến Quốc và dỡ bỏ một số tường thành biên giới giữa các quốc gia trong quá khứ.
Triệu quốc sau mười năm “Hồ phục kỵ xạ” thì binh lực lớn mạnh rất nhanh, nước Triệu hùng mạnh chỉ sau 10 năm, trở thành là một quốc gia có thể chống lại nước Tần, khi này Triệu Vũ Linh vương có thể nói là hào khí vạn trượng.
Các quốc gia ở Trung Nguyên trong quá khứ khi tấn công nước Tần chỉ có một con đường, chính là từ Hàm Cốc quan mà đánh về phía tây, ải Hàm Cốc dễ thủ khó công, có thể nói là một nơi “một khi đã đóng, thì muôn ngàn lần không thể mở”. Trong quá khứ, liên quân năm nước đánh Tần đều là “tay không mà về”.
Triệu Vũ Linh vương sau khi đánh đuổi tộc Hồ, Lâu Phiền, ông phát hiện ra một điều rất quan trọng, đó là khi tấn công nước Tần thì không cần phải qua ải Hàm Cốc. Có thể từ hai địa phương phía Bắc nước Tần để đánh vào, một nơi là Vân Trung, nơi còn lại là Cửu Nguyên, chính là tây nam Hồi Hột và thành phố Bao Đầu, khu Nội Mông Cổ.
Khi đó Triệu Vũ Linh vương có một kế hoạch rất hùng tráng vĩ đại, chính là: Từ phía Bắc tấn công xuống và tiêu diệt nước Tần. Để thực hiện kế hoạch này, ông làm hai việc có thể nói là rất lỗ mãng.
Việc thứ nhất, chính là ông đem vương vị truyền lại cho con trai thứ là Triệu Hà. Chứ không truyền cho con trai trưởng.
Vì sao lại truyền cho Triệu Hà? Triệu Vũ Linh vương trị vì được 16 năm, có một đêm ông nằm mộng, mộng thấy một người con gái vô cùng xinh đẹp, đánh đàn xướng ca cho ông, giấc mộng rất rõ ràng. Ngày hôm sau khi cử hành yến tiệc, Triệu Vũ Linh vương vẫn nhớ đinh ninh về người con gái ấy, ông mới hỏi đại thần: “Hôm qua ta nằm mơ thấy người con gái, hình dáng như thế này, có ai biết nàng ấy ở đâu không”.
Đại thần Ngô Quảng nói: “Thần có một người con gái vô cùng giống trong giấc mơ của ngài, hơn nữa nó còn biết chơi đàn xướng ca”.
Triệu Vũ Linh vương nghe vậy liền vô cùng hưng phấn, bèn triệu con gái Ngô Quảng vào. Ông nhìn thấy rất ngạc nhiên, quả thật rất giống với người con gái trong mộng. Thế là ông bèn nạp cô ấy làm phi tử, gọi là Ngô Oa. Ngô Oa được gả cho Triệu Vũ Linh vương không lâu, liền sinh được người con trai là Triệu Hà.
Trước khi có Ngô Oa, Triệu Vũ Linh vương từng cưới công chúa nước Hàn, sinh được người con trai tên là Triệu Chương. Triệu Chương được phong làm Thái tử. Sau này Ngô Oa mất, Triệu Vũ Linh vương rất đau buồn, vì để tỏ lòng thương nhớ với người thiếp, ông quyết định đem vương vị giao cho Triệu Hà (là con của người thiếp Ngô Oa). Thông thường việc phế lập thái tử là phế một lập một. Triệu Vũ Linh vương quyết định lập Triệu Hà làm người kế nghiệp, điều này đồng nghĩa với việc phế Thái tử hiện tại là Triệu Chương.
Triệu Vũ Linh vương hy vọng khi ông còn sống có thể củng cố lực lượng của Triệu Hà, ông huấn luyện Triệu Hà để thành một quân vương hợp cách. Ông còn hy vọng Triệu Hà có thể xử lý vấn đề kinh tế chính trị của nước Triệu, còn Triệu Vũ Linh vương sẽ có thêm thời gian để tự mình xử lý những chuyện liên quan đến quân sự, đặc biệt là kế hoạch tấn công nước Tần. Như vậy ông coi mình là vua cha, có chút giống với Thái thượng hoàng, cho nên mọi người có thể gọi ông là Triệu vương phụ.
Sau đó, Triệu Vũ Linh Vương tự mình giả trang thành sứ giả nước Triệu để đến nước Tần, lấy danh nghĩa chuyển quốc thư của nước Triệu để sang nước Tần. Trên đường sang Tần, ông vẽ lại địa hình núi sông nước, ghi chú kĩ nơi nào có thể mai phục, nơi nào có thể chiến đấu bằng kỵ binh… ông đã làm một cuộc khảo sát rất kỹ về địa thế của nước Tần.
Khi ông giả trang thành sứ giả, đến đô thành Hàm Dương của Tần để dâng quốc thư, Tần Chiêu Tương Vương có một đoạn đối thoại với Triệu Vũ Linh Vương như sau. Tần Chiêu Tương Vương hỏi Triệu Ung: “Nước Triệu các người có sợ nước Tần ta không?”.
Triệu Ung bình tĩnh đáp: “Nếu chúng tôi không sợ nước Tần, chúng tôi sẽ không ‘Hồ phục kỵ xạ’. Hiện tại bây giờ, binh sĩ chúng tôi có thể cưỡi ngựa tốc độ cao đồng thời bắn cung nỏ, năng lực gấp mười lần trước đây. Dựa vào thực lực như vậy, nước tôi và nước Tần có thể ‘duy trì hoà bình’ trong nhiều năm đó”.
Câu trả lời đầy khí phách đó đã làm Tần vương chấn kinh. Ban đêm khi Tần Chiêu Tương Vương ngủ, đột nhiên nhớ lại người lúc sáng ông gặp có khí phách hiên ngang, ăn nói phi phàm, dường như không giống như một sứ giả bình thường. Ông bèn phái người điều tra, thì mới phát hiện người đó là Triệu Vũ Linh vương. Tần Chiêu Tương Vương mới giật mình. Có thể Tần vương sẽ nghĩ kế muốn bắt gọn Triệu vương, giống như việc ông đã bắt Yên vương khi trước.
Nhưng khi ấy Triệu vương đã rời Tần về Triệu rồi.
Sau khi Triệu Ung về nước, ông tiếp tục tiêu diệt Trung Sơn, mất khoảng 12 năm. Sau khi diệt được Trung Sơn, tâm tình Triệu Ung vui sướng cực độ, ông ban thưởng cho bàn dân trăm họ, bách tính ăn thịt uống rượu trong năm ngày. Năm sau ở đô thành lại cử hành một đại yến hoành tráng, các đại thần đều đến triều kiến Triệu vương.
Triệu vương phụ khi đó ngồi trên đài cao, con trai trưởng của ông khi đó khoảng 25 tuổi, trong khi Triệu vương Triệu Hà mới có 14 tuổi. Triệu Ung thấy con trai lớn Triệu Chương thân thể cường tráng, khuôn mặt khôi ngô, thế mà lại cùng với đại thần quỳ gối dập đầu trước người em mới 14 tuổi. Triệu Ung đột nhiên vô cùng thương cảm cho Triệu Chương, vốn dĩ được làm vương, giờ lại phải dập đầu trước em trai Triệu Hà.
Triệu Ung khi đó muốn phân Triệu thành hai, phân thành phía bắc và phía nam. Phía nam cho Triệu Huệ Văn Vương kế vị, còn vùng đất Đại (代) phía Bắc thì cho Triệu Chương kế vị, như vậy nước Triệu sẽ có hai vương. Ông bèn đem việc ấy thương lượng với các đại thần, nhưng các đại thần kiên quyết phản đối. Đương nhiên sự việc này ông cũng không làm.
Triệu Ung không làm việc trên còn có một nguyên nhân. Con trai trưởng Triệu Chương có một đội quân mã riêng, trong đó có một tướng tên là Điền Bất Lễ. Đồng thời con trai thứ Triệu Hà cũng có một toán binh mã, trong đó dẫn đầu là Bình Nguyên quân Triệu Thắng. Nếu phân nước Triệu thành hai, ắt sẽ dẫn đến cảnh chiến tranh huynh đệ tương tàn. Hơn nữa trận chiến này là trận chiến giữa hai vùng bắc – nam nước Triệu, thế thì công sức bồi dưỡng “Hồ phục kỵ xạ” sẽ đổ xuống sông xuống bể. Do đó, Triệu Ung cuối cùng không thực thi việc phân chia này. Nhưng dù ông không thực thi thì cuộc chính biến cung đình vẫn không thể tránh khỏi.
Năm 295 TCN, nước Triệu phát sinh trận chính biến cung đình thảm khốc ác liệt. Khi Triệu vương phụ dẫn con trưởng là An Dương quân Triệu Chương và con thứ Triệu Huệ Văn vương Triệu Hà đi tuần hành ở Sa Khâu, Triệu Chương lập mưu hại người em, nhưng âm mưu bại lộ. Thế là hai cánh quân của họ lao vào hỗn chiến, Triệu Vũ Linh vương cản không được, thầy của ông là Phì Nghĩa đã tử trận trong đám loạn quân. Lý Đoái cùng Bình Nguyên Quân Triệu Thắng đến cứu giá. Triệu Chương bại trận chạy đến cung điện của Triệu vương phụ.
Lý Đoái và Triệu Thắng đuổi theo chém Triệu Chương. Vì để tránh Triệu vương phụ báo thù, họ dẫn đại quân bao vây Triệu vương phụ trong hoàng cung trong ba tháng, Triệu vương phụ phải dựa vào trứng chim và chim mới nở để ăn, nhưng cuối cùng cũng qua đời do đói khát.
Trải qua cuộc chính biến triều đình thê thảm, Triệu Hà mới danh chính ngôn thuận trở thành quốc vương nước Triệu, chính là Triệu Huệ Văn Vương. Khi đó nước Triệu đã vô cùng lớn mạnh, cho nên ông làm quốc vương được hưởng thái bình trong 10 năm (không có nước nào đánh), chủ yếu là tấn công nước khác. Khi đó, quân đội nước Triệu rất mạnh, đánh với nước Tề đều liên tiếp thu được thắng lợi.
Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, hẹn gặp lại các bạn trong những tập tiếp theo.
