Tập 12: Triều Nguyên tu sửa Hoàng Hà, binh biến nổi dậy khắp nơi nơi

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 30/06/2026

Từ năm 1344 đến năm 1349, đê Hoàng Hà đã vỡ suốt 5 năm trời. Tai họa ấy không chỉ khiến dân đói lưu lạc khắp nơi, cảnh cơ hàn trải dài muôn dặm, mà còn làm cho tuyến tào vận — con đường vận chuyển lương thực trọng yếu của triều đình — bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Sau khi Thoát Thoát được phục chức tể tướng, ông tiếp thu kiến nghị của Tào vận sứ – Giả Lỗ, quyết định tiến hành một cuộc đại trị thủy quy mô lớn đối với sông Hoàng Hà. Đến năm Chí Chính thứ 11 (tức năm 1351), Nguyên Thuận Đế hạ chiếu, huy động 17 vạn dân phu, nhằm đưa dòng Hoàng Hà trở lại dòng chảy như xưa. Nhưng không ngờ rằng, chính hành động này lại thổi bùng lên ngọn lửa binh biến khắp trời đất. 

Sông Hoàng Hà từ xưa đến nay vẫn luôn là một trong những vấn đề nan giải nhất đối với các bậc đế vương. Vì sao lại như vậy? Bởi vì lượng phù sa của Hoàng Hà quả thực quá lớn. Dòng sông ấy từ cao nguyên Hoàng Thổ cuồn cuộn đổ xuống, mang theo vô số bùn cát. Nhưng vì địa thế chênh lệch rất lớn, dòng nước chảy xiết, nên bùn cát cũng bị cuốn theo dòng mà đi. Đến khi chảy vào vùng bình nguyên, tốc độ dòng nước chậm lại, bùn cát bắt đầu lắng xuống, tích tụ từng lớp, từng lớp. Bởi vậy, lòng sông Hoàng Hà liên tục bị bồi đắp cao lên.

Cứ cách vài năm, Hoàng Hà sẽ có một lần tràn bờ gây lũ. Mà một khi Hoàng Hà đã tràn ngập, dòng sông thường sẽ đổi hướng, bởi nước vốn dĩ luôn tìm nơi thấp mà chảy xuống. Năm 1194, Hoàng Hà xảy ra một lần đổi dòng cực kỳ nghiêm trọng. Vốn dĩ Hoàng Hà có cửa biển riêng của nó, nhưng sau lần đổi dòng ấy, nước Hoàng Hà lại nhập vào sông Hoài. 

Sông Hoài vốn không có khả năng tiếp nhận một lượng nước lớn đến như vậy, nay đột nhiên lại phải gánh thêm cả một dòng Hoàng Hà cuồn cuộn đổ vào. Thế là mực nước sông Hoài dâng vọt, rồi cũng bắt đầu phát sinh lũ lụt. Không chỉ vậy, khi nước Hoàng Hà men theo sông Hoài để chảy ra biển, nó cũng mang theo một lượng bùn cát khổng lồ, bồi lắng ở cửa biển, cuối cùng làm cửa biển ấy bị bít lấp. Vì thế, về sau ngay cả sông Hoài cũng mất đi cửa biển riêng của mình.

Sau khi nước sông Hoài tràn lan, tại những vùng đất thấp trũng đã hình thành nên một hồ lớn, đó chính là hồ Hồng Trạch ngày nay. Từ hồ Hồng Trạch, nước lại chảy vào Trường Giang, rồi theo dòng Trường Giang đổ ra biển. Bởi vậy có thể thấy, Hoàng Hà đối với toàn bộ hệ thống thủy văn của Trung Quốc là có ảnh hưởng vô cùng sâu rộng.

Đến thời nhà Nguyên, Hoàng Hà lại một lần nữa tràn bờ gây họa. Vì thế, triều đình bắt đầu bàn bạc xem rốt cuộc nên xử lý như thế nào. Khi ấy có hai phương án. Một phương án cho rằng: chi bằng cứ mặc kệ, không cần quản nữa, bởi vì Hoàng Hà vốn không thể trị được. Dù có dốc sức tu sửa thế nào, thì lòng sông rồi cũng tiếp tục bồi cao, sớm muộn gì nó cũng sẽ lại vỡ bờ, lại gây lũ. Nếu đã vậy, chi bằng buông xuôi, lũ cuốn chết bao nhiêu thì đành chịu bấy nhiêu.

Còn một đề nghị khác do Tào vận sứ – Giả Lỗ đưa ra. Giả Lỗ là một chuyên gia thủy lợi. Sau khi tiến hành khảo sát kỹ lưỡng, ông quyết định đưa Hoàng Hà trở về cố đạo, tức là tách dòng Hoàng Hà ra khỏi đoạn chảy nhập vào sông Hoài, rồi dẫn nó quay lại dòng cũ như thời Nguyên Thế Tổ Hốt – Tất Liệt. Làm như vậy, ít nhất Hoàng Hà sẽ không còn tiếp tục gây ảnh hưởng nặng nề đến lưu vực sông Hoài nữa.

Thế nhưng khi triều đình mở hội nghị bàn bạc, có rất nhiều người phản đối phương án của Giả Lỗ. Bởi vì một đoạn của Đại Vận Hà phải đi qua khu vực Hoàng Hà. Khi này, Hoàng Hà đã tràn bờ, tuyến vận lương lập tức bị ảnh hưởng; lương thực vận chuyển đến kinh thành không đủ, mà lương thực ở Sơn Đông cũng thiếu hụt. Nếu lúc này lại muốn tu sửa Hoàng Hà, tức là phải điều mười mấy vạn người đến công trường trị thủy. Nhưng từng ấy con người đều phải ăn cơm. Vậy vấn đề lương thực của họ sẽ giải quyết ra sao?

Chỉ còn cách huy động dân phu ngay tại địa phương mà thôi. Nhưng dân chúng nơi ấy vốn đã không còn đủ cơm ăn, nay triều đình lại làm như vậy, chẳng khác nào châm thêm lửa vào đống rơm khô, rất dễ kích phát bạo loạn.

Thế nhưng Thoát Thoát không nghe theo. Ông cho rằng: “Hoàng Hà đang gây lũ, cuốn chết bao nhiêu dân chúng như vậy! Sao có thể khoanh tay mặc kệ? Nhất định phải trị sông”. Vì thế, Thoát Thoát quyết định áp dụng phương án của Giả Lỗ. Vào năm Chí Chính thứ 11 (tức năm 1351), triều đình điều động 17 vạn dân phu, bắt đầu công cuộc tu sửa sông Hoàng Hà.

Giả Lỗ quả thực là một bậc kỳ tài trong lĩnh vực thủy lợi. Ông đã sử dụng rất nhiều phương pháp mới mẻ, có tính sáng tạo cao, và chỉ trong vòng nửa năm đã đưa Hoàng Hà trở lại dòng chảy xưa. Người này quả thật rất lợi hại.

Thể nhưng chính sự việc ấy đã làm khởi phát một vấn đề khác: “nông dân khởi nghĩa”.

Trước khi Giả Lỗ trị thủy, người dân ở hai bên bờ Hoàng Hà đã lưu truyền một bài dân dao. Theo ghi chép trong Nguyên sử – Hà cừ chí, khi ấy dân chúng thường hát một câu rằng: 

“Thạch nhân một mắt hiện ra,
Khuấy động Hoàng Hà, thiên hạ cùng phản.”

Bài ca ấy đã lưu truyền trong dân gian từ lâu, cũng không ai biết nó có nghĩa gì. Không ngờ đến khi Giả Lỗ tiến hành trị thủy, tại một nơi gọi là Hoàng Lăng Cương, người ta thật sự đào được một tượng đá chỉ có một mắt.

Lòng người trong thiên hạ bắt đầu xao động, nhân tâm rối loạn. Mà đại thế thiên hạ lúc bấy giờ vốn cũng đã sắp bước vào thời loạn. Trước khi Giả Lỗ trị thủy, đã có không ít nông dân nổi dậy. Nhưng mục đích ban đầu của họ chỉ là cướp lương thực để sống qua ngày, chứ chưa hẳn đã có ý tranh đoạt thiên hạ. Thế nhưng nay lời sấm “khuấy động Hoàng Hà, thiên hạ cùng phản” đã ứng nghiệm, nên những kẻ tiếp tục khởi binh sau đó đã không còn chỉ vì miếng ăn nữa. Mục tiêu của họ bắt đầu chuyển thành ‘tranh đoạt thiên hạ’.

Giả Lỗ bắt đầu trị thủy Hoàng Hà vào mùa xuân năm 1351. Đến tháng tư, người ta đào được tượng đá một mắt. Sang tháng 5, Hàn Sơn Đồng và Lưu Phúc Thông liền khởi binh tạo phản.

Tổ tiên của Hàn Sơn Đồng vốn là người Hà Bắc, về sau dời đến Dĩnh Châu, tức Phụ Dương, An Huy ngày nay. Họ đều là tín đồ của Bạch Liên giáo. Giáo nghĩa của Bạch Liên giáo khi ấy truyền rằng Phật Di Lặc sắp giáng thế, Minh Vương sắp xuất hiện, v.v. Lúc bấy giờ, Bạch Liên giáo có rất nhiều tín đồ trên khắp cả nước.

Sau sự kiện tượng đá một mắt, Hàn Sơn Đồng và Lưu Phúc Thông liền tập hợp ba nghìn người tại Dĩnh Châu, chuẩn bị khởi nghĩa. Khi ấy, họ tuyên rằng Hàn Sơn Đồng là hậu duệ đời thứ tám của Tống Huy Tông, còn Lưu Phúc Thông là hậu nhân của Lưu Quang Thế, một trong “Trung hưng tứ tướng” đầu thời Nam Tống. Họ dựng lên ngọn cờ khởi nghĩa, khẩu hiệu là khôi phục giang sơn người Hán, phục hưng Đại Tống. Khẩu hiệu này rất có sức hiệu triệu, nhưng còn động cơ chính trị thì vẫn chưa thể xác minh.

Thế nhưng, tin tức khởi binh đã bị bại lộ. Quan phủ lập tức kéo quân đến truy quét. Hàn Sơn Đồng tử trận, con trai ông là Hàn Lâm Nhi đã chạy thoát; Lưu Phúc Thông cũng thoát khỏi vòng vây, sau đó lại tiếp tục tập hợp lực lượng.

Đến ngày mồng 3 tháng 5, Lưu Phúc Thông chiếm được Dĩnh Châu, tức là Phụ Dương, An Huy ngày nay. Đội quân khởi nghĩa này đều quấn khăn đỏ trên đầu, vì vậy được gọi là Hồng Cân quân, tức “quân khăn đỏ”. Về sau, Chu Nguyên Chương cũng là một nhánh thuộc lực lượng Hồng Cân quân ấy.

Trước khi Lưu Phúc Thông khởi binh, vào năm Chí Chính thứ 8 (tức năm 1348), đã có một người tên là Phương Quốc Trân nổi dậy ở Đài Châu, tức là thành phố Đài Châu thuộc tỉnh Chiết Giang ngày nay. Phương Quốc Trân vốn là một hải tặc. Vào thời nhà Nguyên, tuyến vận lương có hai đường. Một là theo đường sông, tức là dùng Đại Vận Hà để vận chuyển lương thực từ phương Nam lên kinh thành. Còn lại là đường biển, xuất phát từ đảo Sùng Minh. Phương Quốc Trân là hải tặc chuyên hoạt động trên biển, chuyên cướp bóc thuyền vận lương của triều đình.

Khi ấy, quan Tham tri chính sự của Giang Chiết tên là Đóa Nhi Chỉ Ban, ông cho rằng: “Phương Quốc Trân quấy nhiễu tàu vận lương như vậy, sao có thể để yên?” Thế là Đóa Nhi Chỉ Ban dẫn quân đi đánh Phương Quốc Trân, kết quả là thua trận, lại còn bị Phương Quốc Trân bắt sống.

Phương Quốc Trân ép Đóa Nhi Chỉ Ban làm người trung gian, thay mình đàm phán điều kiện với triều đình. Phương Quốc Trân nói rằng: “nếu triều đình phong quan cho ta, thì ta có thể tiếp nhận chiêu an”. Triều đình liền phong ông ta làm Định Hải úy, Phương Quốc Trân cũng theo đó mà đầu hàng.

Nhưng sau khi làm quan được hai ngày, Phương Quốc Trân nghĩ lại, thấy chức quan ấy chẳng lớn bao nhiêu, thế là lại tạo phản. Triều đình lại chiêu an, ông ta lại đầu hàng. Sau khi đầu hàng, chức quan được phong còn lớn hơn trước. Thế nhưng qua mấy ngày, Phương Quốc Trân lại tạo phản, triều đình lại chiêu an. Cứ mỗi lần đầu hàng rồi lại tạo phản, quan chức của ông ta lại được nâng lên một bậc.

Lúc bấy giờ, nhà Nguyên khi đem quân đi đánh Phương Quốc Trân đã chiêu mộ rất nhiều binh sĩ, họ là người Hán tham gia bình định phản loạn. Những người này tử chiến rất nhiều, nhưng triều đình lại không hề ban tiền chôn cất, cũng không an ủi gia quyến. Có gia đình tử trận rất nhiều, nhưng triều đình cũng chẳng đoái hoài.

Thế nhưng, những kẻ đi theo Phương Quốc Trân tạo phản thì khác: chỉ cần phản một lần, hàng một lần, là lại được thăng quan phát tài một lần. Vì vậy, người dân bắt đầu nghĩ rằng: “ta hà tất phải đi đánh Phương Quốc Trân? Triều đình có thưởng gì cho ta đâu. Chi bằng đi theo Phương Quốc Trân tạo phản, như vậy còn được thăng tiến nhanh hơn”. Chính sách xử lý của triều đình như thế chẳng những không dẹp được loạn, mà trái lại còn khiến mâu thuẫn trong thiên hạ ngày càng bị trầm trọng hơn.

Năm Chí Chính thứ 11 (tức năm 1351), cũng chính là năm Giả Lỗ trị thủy Hoàng Hà, đã nổ ra cao trào khởi nghĩa trên khắp Trung Quốc. Khi ấy, có Chi Ma Lý ở Tiêu huyện, Từ Thọ Huy ở Kỳ Châu, lại có Lưu Phúc Thông cùng nhiều thế lực khác, họ đều lần lượt nổi dậy trong cùng một năm. Sang năm sau, Trương Sĩ Thành cũng khởi binh phản Nguyên.

Nếu xét đại khái phạm vi thế lực lúc bấy giờ, thì Lưu Phúc Thông chiếm cứ vùng phía nam Hà Nam và phía bắc An Huy; Phương Quốc Trân kiểm soát một dải Đài Châu, Ôn Châu; sau khi Chi Ma Lý bị tiêu diệt, tàn quân chạy sang nương nhờ Quách Tử Hưng, hoạt động tại khu vực Hào Châu, tức Phụng Dương, An Huy ngày nay; còn Từ Thọ Huy thì chiếm cứ vùng giao giới giữa ba tỉnh An Huy, Hồ Bắc và Giang Tây. Thiên hạ Đại Nguyên đến đây đã bước vào thế lửa loạn bốn bề, các phương hào kiệt nổi lên, cục diện không còn có thể cứu vãn.

Đối diện với cục diện đao binh nổi lên khắp bốn phương, thân là thừa tướng, Thoát Thoát trong lòng nóng như lửa đốt. Vì thế, ông quyết định đích thân thống lĩnh binh mã đi chinh phạt các lực lượng nổi dậy. Về mặt cầm quân tác chiến, Thoát Thoát quả thực rất lợi hại, ông liên tiếp giành được nhiều thắng lợi trên chiến trường. Thế nhưng, chiến thắng ấy chẳng những không khiến ông nhận được thêm sự tín nhiệm từ hoàng đế, mà trái lại còn khiến ông rước lấy họa sát thân.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Đại Minh vương triều.

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>