Tập 13: Bốn bề khói lửa, khởi binh khắp nơi, nhà Nguyên phái quân dẹp loạn

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 05/07/2026

Từ trước khi Giả Lỗ tiến hành trị thủy sông Hoàng Hà, thì người dân dọc hai bờ sông ấy đã lưu truyền một câu đồng dao rằng:

“Thạch nhân một mắt hiện ra,
Khuấy động Hoàng Hà, thiên hạ cùng phản.”

Đến tháng 4 năm 1351, từ dưới lòng sông Hoàng Hà, người ta đào được một pho tượng đá chỉ có một mắt. Lời đồng dao bấy lâu, cứ tưởng chỉ là chuyện truyền miệng, thế mà nay bỗng hóa thành lời sấm. Lòng người vốn đã bất mãn với thời cuộc, từ đó càng thêm dao động; khắp nơi khói lửa nổi lên, chiến loạn bùng phát. Hàn Sơn Đồng và Lưu Phúc Thông khởi binh tại Dĩnh Châu; Quách Tử Hưng dựng cờ khởi nghĩa ở Hào Châu. Các lực lượng này đều lấy danh nghĩa Hồng Cân quân để hiệu triệu.

Tháng 5 năm Chí Chính thứ 11, tức năm 1351, Hàn Sơn Đồng và Lưu Phúc Thông phát động khởi binh tại Dĩnh Châu. Nhưng vì cơ sự bị bại lộ, Hàn Sơn Đồng tử trận. Sau đó, Lưu Phúc Thông nhanh chóng chiếm được Dĩnh Châu, tức vùng Phụ Dương, An Huy ngày nay. Năm 1352, Quách Tử Hưng dựng cờ khởi binh tại Hào Châu. Hào Châu chính là vùng Phượng Dương, tỉnh An Huy ngày nay.

Đương thời, lực lượng Hồng Cân quân không chỉ có hai đạo quân của Lưu Phúc Thông và Quách Tử Hưng. Mà khắp nơi còn có rất nhiều cánh quân khác cũng dựng lên lá cờ Hồng Cân, trong đó có Từ Thọ Huy ở miền Nam và Chi Ma Lý tại Tiêu huyện.

Chi Ma Lý tên thật là Lý Nhị. Trước kia, khi vùng lưu vực Hoài Hà xảy ra nạn đói, ông từng mở kho trong nhà, đem cả một kho mè ra để cứu tế dân chúng. Bởi nghĩa cử ấy, người dân cảm phục, thân thiết gọi ông là “Chi Ma Lý”, nghĩa là “Lý Mè”. 

Chi Ma Lý cùng với Triệu Quân Dụng khởi binh. Rất nhanh sau đó, họ đã đánh chiếm Từ Châu. Từ Châu vốn là một trọng điểm quân sự, giữ vị trí vô cùng hiểm yếu, nên hành động này lập tức đã khiến triều đình nhà Nguyên chấn động, triều đình lập tức huy động đại quân trấn áp. Trong cuộc chiến khốc liệt ấy, Chi Ma Lý tử trận; tàn quân còn sống thì chạy đến Hào Châu, nương nhờ dưới trướng Quách Tử Hưng.

Quách Tử Hưng là người Định Viễn, tức huyện Định Viễn, tỉnh An Huy ngày nay. Cha của ông là một thầy tướng số, nổi tiếng vì có thể xem cát hung họa phúc rất linh nghiệm. Ở địa phương khi ấy có một phú hào vô cùng giàu có, nhưng có một cô con gái mù. Vì người con gái bị mù nên khó tìm được nơi kết duyên, về sau phú hào đã gả con gái cho cha của Quách Tử Hưng. Nhờ cuộc hôn nhân ấy, gia cảnh họ Quách dần trở nên sung túc.

Khi Quách Tử Hưng dựng cờ khởi nghĩa, còn có bốn người khác cùng đứng lên hưởng ứng. Trong số đó có một người tên là Tôn Đức Nhai. Cả năm người đều xưng là nguyên soái, địa vị ngang hàng. Trên thực tế, cách tổ chức ấy có ẩn chứa một vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Đội quân của Quách Tử Hưng vốn đã không đông, lại không có một người đứng đầu nắm quyền quyết định tối cao. Vì vậy, mỗi khi gặp chuyện hệ trọng, năm vị nguyên soái rất có thể sẽ mỗi người một ý, tranh luận không ngừng, thậm chí sẽ phát sinh xung đột.

Đặc biệt, xuất thân của Quách Tử Hưng hoàn toàn khác với bốn người còn lại. Ông vốn là người có gia sản, có lẽ cũng là người được đi học; trong khi bốn vị nguyên soái kia đều xuất thân từ những gia đình nông dân nghèo khổ. Sử sách chép rằng bốn người ấy hành xử khá thô lỗ, kiến thức nông cạn, tầm nhìn hạn hẹp, lại thường cướp bóc dân chúng. Nghĩa là họ không chỉ giao chiến với quân Nguyên, mà còn nhiều lần chiếm đoạt tài sản của bách tính vô tội. Chính vì sự khác biệt ấy, quan hệ giữa Quách Tử Hưng và bốn thủ lĩnh kia ngày càng trở nên căng thẳng.

Mỗi lần mở hội nghị quân sự, Quách Tử Hưng đều coi thường bốn kẻ ấy. Ngược lại, bọn họ cũng chẳng phục Quách Tử Hưng, lại còn liên kết với nhau để cô lập và gạt ông ra ngoài. Bởi vậy, sau mỗi lần nghị sự, Quách Tử Hưng thường chỉ có thể lặng lẽ trở về nhà, một mình ôm nỗi bực tức.

Trong khi các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp bùng lên, thì quân đội nhà Nguyên lại dần mục nát đến tận gốc. Nhớ lại khi Thành Cát Tư Hãn, Oa Khoát Đài, Mông Kha và Hốt Tất Liệt còn tại thế, thiết kỵ Mông Cổ từng tung hoành thiên hạ, uy chấn bốn phương. Thế nhưng chỉ sau mấy chục năm, khi triều đình điều quân đi dẹp loạn, người ta mới thấy sức chiến đấu của quan quân nhà Nguyên gần như đã suy sụp hoàn toàn, vô cùng suy yếu.

Trong Nguyên sử có kể lại rằng, khi Lưu Phúc Thông khởi nghĩa, triều đình nhà Nguyên phái Ngự sử đại phu – Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi cùng Vệ vương – Khoan Triệt Ca, thống lĩnh 30 vạn đại quân tiến đánh Lưu Phúc Thông. Thế nhưng đạo quân triều đình chưa giao chiến mà đã tự tan vỡ. Khi đại quân đóng trại tại Sa Hà, Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi không dám tiếp tục tiến quân, mà cứ án binh bất động ở đó suốt hơn 10 ngày.

Chúng ta biết rằng khi hành quân tác chiến, tinh thần binh sĩ luôn ở trạng thái căng thẳng cực độ. Bất cứ lúc nào họ cũng có thể nhận được lệnh triệu tập khẩn cấp, hoặc phải đề phòng quân địch bất ngờ tập kích doanh trại trong đêm. Trong hoàn cảnh ấy, chỉ cần một người lên cơn mê loạn, hoặc nửa đêm mộng du, vô thức ngồi dậy mặc áo giáp, những người xung quanh rất dễ tưởng rằng đã có lệnh báo động. Một người vội vàng đứng dậy, rồi mười người, trăm người cùng cuống cuồng mặc áo, cầm binh khí, lao ra khỏi lều trại. Đến khi xông ra ngoài mà lại không thấy quân địch đâu, trong bóng tối hỗn loạn, binh sĩ thậm chí có thể nhận lầm nhau là kẻ địch rồi tự chém giết lẫn nhau.

Trong tiếng Hán, hiện tượng ấy được gọi là “tạc doanh”: quân địch còn chưa đánh tới, nhưng do một biến cố bất ngờ hoặc một cơn hoảng loạn lan truyền, cả doanh trại đã tự rơi vào hỗn loạn, thậm chí tàn sát lẫn nhau. Ba mươi vạn quân Nguyên khi chuẩn bị tiến đánh với Lưu Phúc Thông, đã rơi vào cảnh ấy.

Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi thấy cảnh doanh trại đại loạn, không những không tìm cách ổn định quân tâm mà lập tức nhảy lên lưng ngựa, quay đầu chuẩn bị bỏ chạy. Có người vội kéo cương ngựa của ông ta lại, khuyên rằng: “Xin tướng quân đừng chạy! Ngài mà bỏ đi, đại quân sẽ ra sao?” Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi lập tức rút đao chém chết người ấy, rồi nói: “Nếu ta không chạy, thì ngay cả tính mạng ta cũng chẳng giữ nổi!” Thế là vị chủ tướng đã bất chấp tất cả, liều mạng chạy trốn. Ba mươi vạn đại quân chưa đánh một trận nào mà đã tự tan rã.

Chính sử chép rằng, sau cuộc tháo chạy ấy, quân Nguyên đã bỏ lại vô số binh khí, lều trại, cùng quân nhu, chất cao như núi. Toàn bộ số vật tư ấy đều rơi vào tay của Lưu Phúc Thông.

Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi thu gom những binh sĩ bại trận còn sót lại, tiếp tục rút quân, cuối cùng rút đến Biện Lương. Thế nhưng tướng trấn thủ Biện Lương đã đóng chặt cửa thành, nhất quyết không cho ông ta vào. Vị tướng cất giọng quở trách: “Triều đình phái ngươi dẫn quân đánh giặc, vậy mà chưa giao chiến mà đã tự tan vỡ. Nay ngươi lại còn chạy đến chỗ ta để lánh nạn. Ta không thể mở cửa cho ngươi vào thành. Việc này nhất định phải tâu lên triều đình, hạch tội của ngươi!” Không còn đường nào khác, Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi đành phải dẫn tàn quân đến đóng trại tại Chu Tiên Trấn.

Còn một vị chủ tướng của quân Nguyên tên là Vệ vương – Khoan Triệt Ca, thì lại càng thảm hại hơn. Trong lúc ông ta vẫn còn say ngủ, Hồng Cân quân đã ập đến và bắt sống. Qua những chuyện ấy có thể thấy, sức chiến đấu của quân Nguyên vào thời điểm đó quả thực đã suy yếu đến mức đáng kinh ngạc.

Sau khi Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi trở về triều đình, tuy rằng đã làm tổn thất một lực lượng quân đội vô cùng lớn, nhưng ông ta lại không bị trừng phạt. Bởi vì Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi có chỗ dựa, anh trai ông ta chính là Thừa tướng Thoát Thoát. Hơn nữa, người phái ông ta xuất chinh lần này cũng chính là Thoát Thoát. Thấy em trai bại trận, Thoát Thoát liền quyết định đích thân thống lĩnh đại quân, tiến đánh quân phản loạn.

Thoát Thoát quả thực là một người rất giỏi dụng binh. Đến tháng 9 năm ấy, ông đã tiêu diệt lực lượng của Chi Ma Lý. Hai bộ tướng dưới quyền Chi Ma Lý là Bành Đại và Triệu Quân Dụng phải chạy đến nương nhờ dưới trướng Quách Tử Hưng.

Quách Tử Hưng dựng cờ khởi nghĩa vào tháng 2 năm Chí Chính thứ 12, tức năm 1352. Đến tháng 3 nhuận cùng năm, có một người trẻ tuổi tìm đến để xin gia nhập nghĩa quân. Thế nhưng vừa tới nơi, người ấy đã bị đội thân binh của Quách Tử Hưng bắt giữ. Họ bẩm báo rằng: “Có một kẻ vừa đến xin tòng quân, nhưng lai lịch rất khả nghi. E rằng đây là gian tế của triều đình, xin nguyên soái cho phép giết”. 

Thế là Quách Tử Hưng đã đích thân xem xét. Vừa nhìn thấy người ấy, ông đã nhận ra đây không phải kẻ tầm thường. Người thanh niên này có dung mạo đường hoàng, khí độ bất phàm. Sau một hồi trò chuyện, Quách Tử Hưng lại phát hiện anh ta có kiến thức sâu rộng, lời nói rất có chủ kiến, thế là quyết định giữ lại bên mình.

Người thanh niên tưởng như suýt mất mạng ngay trong ngày đầu tòng quân ấy, về sau chính là Minh Thái Tổ – Chu Nguyên Chương.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Đại Minh vương triều.

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>