Năm Chí Chính thứ 24 (tức năm 1364), sau trận đại chiến long trời lở đất trên hồ Bà Dương, Chu Nguyên Chương về cơ bản đã tiêu diệt được thế lực của Trần Hữu Lượng. Cũng trong năm ấy, Chu Nguyên Chương xưng là Ngô vương, thiết lập bộ máy quan lại, chuẩn bị quét sạch những thế lực còn sót lại ở Giang Nam, trước hết là Trương Sĩ Thành và Phương Quốc Trân, sau đó sẽ dẫn quân Bắc phạt, tiến thẳng về Đại Đô.
Đúng vào lúc quốc vận Đại Nguyên đang nghiêng ngả giữa phong ba, cơ nghiệp đã như ngọn đèn trước gió, thì trong nội bộ nhà Nguyên lại bùng nổ nội chiến vô cùng khốc liệt.
Khi ấy, triều Nguyên có hai đạo quân hùng mạnh nhất. Một đạo quân do Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi thống lĩnh; đạo quân còn lại nằm dưới quyền Bột La Thiếp Mộc Nhi. Cha nuôi của Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi là danh tướng Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi, ông được phong làm Dĩnh Xuyên vương.
Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi vốn là người Nãi Man. Từ đời cụ cố của ông, gia tộc đã đến định cư tại Hà Nam. Vì thế, mức độ Hán hóa của ông vô cùng sâu đậm, ông còn có một tên bằng tiếng Hán là Lý Đình Thụy.
Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi là một nhân vật văn võ song toàn. Ông từng tham dự khoa cử, thi đỗ tiến sĩ; dung mạo lại có nét khác thường: trên má trái mọc ba sợi lông dài, mỗi khi nổi giận, ba sợi lông dựng đứng, khiến thần sắc càng thêm uy nghiêm dữ dội.
Bấy giờ, dân biến nổi lên khắp nơi, binh đao lan tràn bốn cõi. Mang trong lòng chí nguyện trung quân báo quốc, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi bắt đầu đứng ra chiêu mộ nghĩa binh. Khi ấy, quân đội chính quy của nhà Nguyên đã suy yếu, gần như không còn đủ sức dẹp loạn, nên ông phải tự tập hợp lực lượng trong dân, rồi dẫn quân giao chiến với các thế lực tạo phản.
Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi chiến đấu vô cùng dũng mãnh. Đội quân của ông tung hoành khắp Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Hà Bắc, Thiểm Tây, thậm chí còn tiến vào tận Tứ Xuyên. Mỗi nơi ông đi qua, thế quân mạnh như chẻ tre, như tiến vào chốn không người. Trong số các lực lượng nổi dậy đương thời, gần như không một thể lực nào có thể chống lại ông. Có thể nói, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi quả thực là một danh tướng kiêu hùng, tài năng phi phàm, uy chấn một thời.
Năm Chí Chính thứ 14 (tức năm 1354), Thoát Thoát huy động đại quân lên đến hàng triệu người, gần như dốc toàn bộ binh lực của triều Nguyên, tiến đánh Trương Sĩ Thành. Thế nhưng giữa lúc chiến sự đang diễn ra, Thoát Thoát đột ngột bị tước binh quyền, quân Nguyên mất đi tướng tài chỉ huy, giống như rắn mất đầu, đội ngũ nhanh chóng tan rã và đại bại.
Thất bại của Thoát Thoát là một tin mừng lớn đối với các lực lượng nổi dậy ở phía nam Trường Giang. Có những thế lực trước đó đã bị quân Nguyên đánh đến mức gần như không còn đường sống, như Trương Sĩ Thành, Lưu Phúc Thông, Từ Thọ Huy, chẳng bao lâu sau đã như tro tàn bùng cháy trở lại, liên tiếp khôi phục và mở rộng thế lực. Trong số ấy, lực lượng phát triển nhanh nhất chính là Lưu Phúc Thông.
Năm Chí Chính thứ 15 (tức năm 1355), Lưu Phúc Thông tôn Hàn Lâm Nhi lên ngôi hoàng đế (ông là con trai của Hàn Sơn Đồng). Sau đó, họ đặt niên hiệu thành Long Phượng, lập quốc hiệu là Tống, định đô tại Bạc Châu. Hàn Lâm Nhi còn được người đời gọi là “Tiểu Minh Vương”.
Không lâu sau đó, quân Nguyên tiến đánh dữ dội, bao vây Bạc Châu. Lưu Phúc Thông buộc phải đưa Hàn Lâm Nhi bỏ chạy, họ dời đến An Phong (nay thuộc huyện Thọ, tỉnh An Huy). Không lâu sau đó, Lưu Phúc Thông đánh bại quân Nguyên, rồi nhân đà thừa thắng tiến quân, phát động cuộc Bắc phạt, binh mã tiến lên phương Bắc.
Khi ấy, Lưu Phúc Thông đóng quân ở miền bắc An Huy. Nếu từ nơi này tiếp tục tiến lên phía bắc, chẳng bao xa nữa là bước vào địa phận Hà Nam; mà một khi đã tiến vào Hà Nam, thì cũng có nghĩa là đã thực sự đặt chân vào Trung Nguyên.
Lưu Phúc Thông chia quân thành ba cánh. Đông lộ quân do Mao Quý thống lĩnh, tiến đánh Sơn Đông; Bắc lộ quân do Quan Đạc chỉ huy, tiến công Hà Bắc và Sơn Tây; còn Tây lộ quân do Bạch Bất Tín dẫn đầu, tiến quân vào Thiểm Tây.
Các cánh quân này đều áp dụng chiến thuật tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu: nơi nào có thành cao hào sâu, khó lòng công phá thì tạm thời vòng qua; còn nơi nào phòng bị sơ hở thì lập tức thừa cơ tiến đánh. Nhờ vậy, mấy đạo đại quân đều tiến đánh vô cùng thuận lợi, liên tiếp xâm nhập sâu vào vùng lãnh thổ do triều Nguyên kiểm soát.
Ban đầu, Tây lộ quân do Bạch Bất Tín thống lĩnh có thế tiến quân cực kỳ thuận lợi, rất nhanh đã chiếm được vùng Quan Trung. Nhưng chính vào lúc ấy, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi bắt đầu xuất binh đánh dẹp phản loạn. Sau khi tiến quân vào Quan Trung, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi lập tức giao chiến với quân của Bạch Bất Tín. Quân của Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi mạnh mẽ phi thường, chỉ trong một trận đã đánh cho Bạch Bất Tín tan vỡ, binh sĩ bỏ chạy tứ tán.
Bạch Bất Tín liều mạng bỏ chạy, còn Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi thì đích thân dẫn thiết kỵ truy kích ráo riết. Chỉ trong một đêm, kỵ binh đã đuổi hơn hai trăm dặm, thế truy sát mãnh liệt như cuồng phong quét qua đồng nội.
Sau đó, Bạch Bất Tín chạy vào Tứ Xuyên. Khi ấy, tại đây có một thế lực cát cứ do Minh Ngọc Trân đứng đầu. Tàn quân của Bạch Bất Tín đã bị Minh Ngọc Trân thôn tính. Tây lộ quân từng một thời tiến vào Quan Trung, đến đây là hoàn toàn bị tiêu diệt.
Còn hành trình của Bắc lộ đại quân lại vô cùng kỳ lạ, gần như là một cuộc trường chinh, vừa đánh vừa chạy, kéo dài xuyên qua cả một vùng rộng lớn.
Sau khi tiêu diệt Tây lộ quân, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi lập tức dẫn quân tiến vào Sơn Tây, đồng thời cắt đứt con đường rút lui về phía nam của Bắc lộ quân. Bắc lộ quân chẳng thể chống lại Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi, mà đường lui phía đã bị phong tỏa, nên họ chỉ còn cách liều mạng bỏ chạy lên phương Bắc. Thế rồi bất ngờ đánh chiếm được Đại Đồng.
Sau khi công hạ được Đại Đồng, Bắc lộ quân cũng không dám dừng lại. Họ tiếp tục tiến lên phía bắc, lần lượt công phá Thượng Đô và Hòa Lâm. Mặc dù chiếm được Hòa Lâm, đoàn quân vẫn không dám dừng lại lâu, bởi vì Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi vẫn bám sát phía sau, liên tục truy kích ráo riết.
Từ Hòa Lâm, Bắc lộ quân lại chuyển hướng chạy về phía đông, tiến vào Liêu Dương; rồi từ Liêu Dương chạy sang Cao Ly. Tại đây, Bắc lộ quân đánh phá Cao Ly rất dữ dội, chiếm được Đông đô Khai Thành của Cao Ly.
Sau khi Khai Thành thất thủ, quốc vương Cao Ly vội vã bỏ chạy. Nhưng Cao Ly vẫn luôn là một dân tộc ngoan cường, họ phái sứ giả quay lại để đàm phán với Bắc lộ quân. Phía Cao Ly nói rằng trong nước có rất nhiều mỹ nữ, xin được dâng tặng cho quân khởi nghĩa, chỉ mong hai bên có thể giảng hòa.
Bắc lộ quân khi ấy đang sống trong men say chiến thắng, tự cho rằng đại thế đã nằm trong tay, nên vui vẻ tiếp nhận mỹ nữ ấy mà không hề tăng cường phòng bị. Đúng lúc tướng sĩ Bắc lộ quân buông thả hưởng lạc, quân Cao Ly bất ngờ khép chặt vòng vây, rồi đồng loạt phát động tiến công. Bắc lộ quân gần như bị giết sạch, hầu như chẳng còn mấy người sống sót.
Một đạo quân từng vượt qua Sơn Tây, đánh chiếm Đại Đồng, Thượng Đô, Hòa Lâm, rồi tiến sâu vào tận Cao Ly, cuối cùng lại bị tiêu diệt trong lúc mất cảnh giác. Bắc lộ quân từ đó hoàn toàn tan vỡ.
Đông lộ quân do Mao Quý thống lĩnh, thuở đầu thì tiến binh vô cùng thuận lợi. Sau khi tiến vào Sơn Đông, quân của ông nhanh chóng chiếm lĩnh gần như toàn bộ vùng đất này. Bấy giờ, tại Sơn Đông có một đội nghĩa quân do dân chúng địa phương tự tổ chức, mục đích là để chống lại các lực lượng nổi dậy. Người cầm quân tên là Điền Phong. Sau khi Điền Phong quy hàng, Mao Quý càng không còn gặp phải sự kháng cự nào đáng kể, chẳng bao lâu sau thì kiểm soát được Sơn Đông.
Tiếp đó, Mao Quý từ Sơn Đông tiếp tục dẫn quân lên phía bắc, tiến vào Hà Bắc, rồi vượt qua khu vực Kinh–Tân, tức là vùng từ kinh đô đến Thiên Tân, bắt đầu uy hiếp Đại Đô của nhà Nguyên.
Thế quân khi ấy vô cùng mãnh liệt, đã tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với kinh thành. Nguyên Thuận Đế vội vàng triệu tập quần thần để bàn bạc chuyện dời đô. Tuy nhiên, quân Nguyên sau đó đã liều chết chống cự, Mao Quý không thể công phá thành trì, cuối cùng phải lui quân trở về Sơn Đông.
Như vậy, ba đạo quân của Lưu Phúc Thông trong thời kỳ đầu đều tiến triển rất nhanh, thế như chẻ tre, liên tiếp thâm nhập sâu vào những vùng trọng địa do triều Nguyên kiểm soát.
Còn Lưu Phúc Thông thì đích thân dẫn đại quân theo sau, tiến vào Hà Nam. Thuở đầu, lực lượng của ông chủ yếu hoạt động ở hai bờ nam bắc Hoàng Hà, áp dụng lối đánh du kích, thoắt ẩn thoắt hiện, liên tục quấy nhiễu quân Nguyên. Không ngờ vận khí của Lưu Phúc Thông khi ấy dường như vô cùng thuận lợi, cuối cùng đã công hạ được Biện Lương, đây là cố đô của Bắc Tống.
Việc chiếm được Biện Lương là một thắng lợi có ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với Lưu Phúc Thông. Vì sao lại như vậy? Bởi vì ngay từ khi khởi binh, ông đã tuyên bố với thiên hạ rằng Hàn Sơn Đồng là hậu duệ đời thứ tám của Tống Huy Tông, còn bản Lưu Phúc Thông là hậu nhân của danh tướng Lưu Quang Thế.
Nay đã chiếm được Biện Lương, tức là họ đã trở về cố đô của nhà Tống năm xưa. Nhờ đó, thanh thế càng thêm chính danh, khả năng hiệu triệu nhân tâm cũng mạnh hơn trước. Xét về quân sự, đương nhiên đây cũng là một chiến công vang dội.
Lưu Phúc Thông lấy Biện Lương làm kinh đô, dựng nên triều đình mới, đặt quốc hiệu là Tống, đặt niên hiệu là “Long Phượng”. Ông thiết lập triều đình, sắp đặt bá quan, dường như đã chuẩn bị an cư nơi đây, bắt đầu quản lý giang sơn như một chính quyền thực thụ. Thế nhưng đúng vào lúc ấy, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi dẫn quân quay trở về.
Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi trước đó đã tiêu diệt Tây lộ quân, sau đó lại dồn Bắc lộ quân đến chỗ diệt vong, rồi dẫn binh quay trở về, trực tiếp tiến đánh Lưu Phúc Thông.
Đương nhiên, Lưu Phúc Thông chẳng phải là đối thủ của Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi. Ông cố thủ tại Biện Lương suốt mấy tháng, nhưng quân cứu viện mãi không tới, lương thảo cũng cạn sạch. Trong lúc thế cùng lực kiệt, Lưu Phúc Thông buộc phải tháo chạy khỏi Biện Lương, lui về kinh đô cũ là An Phong, thuộc địa phận An Huy ngày nay.
Khi thu phục Biện Lương, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi giữ quân kỷ cực kỳ nghiêm minh. Sử sách ghi lại rằng, lúc đại quân tiến vào thành, dân chúng hầu như không hề kinh hoảng. Trong thành có khoảng 20 vạn dân, ông không cho phép quân lính ức hiếp bách tính. Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi đối đãi với dân chúng rất khoan hòa, nhờ vậy mà 20 vạn cư dân trong thành đều được bảo toàn. Người buôn bán vẫn tiếp tục làm ăn, chợ búa không phải đóng cửa, sinh hoạt thường nhật hầu như không bị gián đoạn. Trật tự tại Biện Lương vẫn được duy trì vô cùng ổn định.
Lúc này, công lao của Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi là vô cùng hiển hách. Ông đã đánh tan Tây lộ quân, dồn Bắc lộ quân đến chỗ diệt vong, ngay cả Biện Lương cũng do ông thu phục. Bởi vậy, triều đình phong cho ông chức tổng lĩnh tại Hà Nam và Thiểm Tây. Nhưng quyền hành của Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi còn vượt ngoài hai vùng ấy. Tất cả quân vụ tại Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, vùng Kinh–Tương, vùng Giang–Hoài cùng nhiều địa phương khác, đều được giao cho ông thống nhất điều động và xử lý.
Khi ấy, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi cho đại quân đóng dày đặc dọc theo dãy Thái Hành Sơn. Cờ xí nối nhau kéo dài suốt ngàn dặm, doanh trại trùng trùng, thanh thế chấn động khắp miền bắc. Nhìn vào cục diện đương thời, dường như cơ nghiệp Đại Nguyên đã xuất hiện hy vọng trung hưng. Bởi những đạo quân nổi dậy tiến vào vùng phía bắc Trường Giang, về cơ bản đều đã bị Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi quét sạch.
Lúc này, trong toàn bộ khu vực phía bắc Trường Giang, Lưu Phúc Thông chỉ còn giữ được một vùng đất cuối cùng, đó là Sơn Đông. Vì thế, sau khi thu phục Biện Lương, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi lại tiếp tục kéo quân tiến đánh Sơn Đông.
Tại Sơn Đông, nội bộ Hồng Cân quân lại phát sinh nội loạn. Khi ấy, Triệu Quân Dụng chạy đến Sơn Đông, ban đầu được Mao Quý thu nhận. Thế nhưng ngay trong một bữa tiệc, Triệu Quân Dụng đã bất ngờ sát hại Mao Quý, rồi cướp lấy quân lính của ông. Hành động lấy oán báo ân này thật là sai lầm. Triệu Quân Dụng chẳng thể đắc ý được lâu. Sau đó, ông ta bị bộ tướng cũ của Mao Quý giết chết.
Cuộc nội chiến trong nội bộ Hồng Cân quân này, đối với triều đình nhà Nguyên chẳng khác nào là một tin vui từ trên trời rơi xuống. Bởi vậy, sau khi tiến quân vào Sơn Đông, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi công phá vô cùng thuận lợi, liên tiếp phá tan các lực lượng chống đối. Cuối cùng, ông gần như đã chiếm lại toàn bộ Sơn Đông, chỉ còn một nơi chưa công hạ, đó là Đông Bình, nằm gần vùng Truy Bác thuộc Sơn Đông ngày nay.
Tướng trấn giữ Đông Bình tên là Điền Phong. Người này xuất thân từ nghĩa binh dân gian, ban đầu tổ chức quân đội để chống lại các lực lượng nổi dậy, sau đó lại quy hàng Mao Quý. Đến lúc thế cục thay đổi, Điền Phong bèn sai người nói với Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi rằng mình muốn quay về đầu hàng triều Nguyên.
Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi đã tin lời ông ta. Sau đó, ông nói rằng muốn đích thân đến để duyệt quân. Vì không hề nghi ngờ, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi chỉ mang theo một số rất ít tùy tùng, tiến vào doanh trại của Điền Phong để thị sát. Nào ngờ đúng vào lúc ấy, Điền Phong bất ngờ phản bội, phát động tập kích và sát hại Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi ngay trong doanh trại.

