Tập 20: Nhà Nguyên nội đấu thảm khốc, tự hao tổn binh lực và bào mòn nguyên khí

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 07/07/2026

Vào năm Chí Chính thứ 22 (tức năm 1362), trước khi Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi qua đời, quan Thái sử tâu rằng trên trời xuất hiện một luồng bạch khí dài như sợi dây, kéo suốt hơn năm trăm trượng, từ chòm sao Nguy tú quét ngang qua Thái Vi viên. Quan thái sử đoán rằng đó là điềm báo vùng Sơn Đông sắp gặp đại hồng thủy. Nhưng Nguyên Thuận Đế nghe xong lại nói: “Không phải. Sơn Đông tất sẽ mất đi một vị lương tướng.”

Thế rồi hoàng đế lập tức sai người mang chiếu thư đến để cảnh cáo Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi, khuyên rằng tuyệt đối không được khinh suất hành động. Thế nhưng chiếu thư còn chưa kịp tới nơi, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi đã bị sát hại. Khi ấy, ông như một bức tường thành mạnh mẽ chống đỡ giang sơn nhà Nguyên. Nay người đã mất, thử hỏi trong thiên hạ còn ai có thể thay thế được đây!?

Sau khi Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi qua đời, con nuôi của ông đã kế thừa chức vị và binh quyền. Người này tên là Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi, tên Hán là Vương Bảo Bảo. Để báo thù cho nghĩa phụ, Vương Bảo Bảo đem quân tiến vào Sơn Đông, đánh phá thành trì và giết chết Điền Phong. Từ đó, vùng đất phía bắc Trường Giang về cơ bản đã được bình định.

Thế nhưng cục diện vừa mới tạm yên, thì một cuộc xung đột mới lại nhanh chóng bùng phát. Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn với Bột La Thiếp Mộc Nhi – vị tướng đang trấn giữ Đại Đồng.

Nguyên do là trước đó, khi Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi truy kích Lưu Phúc Thông, quân đội của ông từng tác chiến trong địa phận Sơn Tây. Nhưng Sơn Tây vốn được xem là khu vực của Bột La Thiếp Mộc Nhi. Nói cách khác, Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi đã đem quân tiến vào địa bàn do Bột La Thiếp Mộc Nhi kiểm soát. Bởi vậy, hai bên phát sinh tranh chấp về phạm vi trấn thủ và quyền kiểm soát lãnh địa, thế rồi triều đình phải đứng ra hòa giải. Tuy nhiên, triều đình vẫn không thể hóa giải hiềm khích. Trái lại, mâu thuẫn giữa hai vị đại tướng ngày càng sâu sắc, cuối cùng đã đến mức không thể vãn hồi.

Trước đó, Nguyên Thuận Đế đã giáng chức Lão Đích Sa và Thốc Kiên Thiếp Mộc Nhi, hai người này liền chạy đến nương nhờ Bột La Thiếp Mộc Nhi. Nguyên Thuận Đế hiểu rằng lúc ấy, người duy nhất có thể đánh bại Bột La chính là Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi. Vì vậy, Nguyên Thuận Đế hạ chiếu thư, lệnh cho Khoách Khuếch xuất binh thảo phạt Bột La.

Thế là, hai đạo quân hùng mạnh nhất, cũng gần như là hai lực lượng cuối cùng còn có thể chống đỡ cơ nghiệp nhà Nguyên, sắp sửa quay sang chém giết lẫn nhau. Một trận nội chiến thảm khốc đã ở ngay trước mắt.

Bột La Thiếp Mộc Nhi nghe tin triều đình chuẩn bị xuất quân thảo phạt mình thì vô cùng phẫn nộ. Ông lập tức phái bộ tướng dẫn quân tiến vào Cư Dung quan, rồi kéo quân thẳng đến bao vây Đại Đô.

Nguyên Thuận Đế thấy thế quân của Bột La quá mạnh, nhất thời không thể chống đỡ. Thái tử khi ấy cũng cảm thấy tình thế vô cùng nguy hiểm. Bởi Bột La vốn cùng phe với Lão Đích Sa và Thốc Kiên Thiếp Mộc Nhi, mà những người này từ lâu đã có mâu thuẫn sâu sắc với thái tử. Vì vậy, thái tử vội vàng chạy đến Hưng Châu, tức khu vực Thừa Đức, tỉnh Hà Bắc ngày nay. Nguyên Thuận Đế thấy cục diện ngày càng bất lợi, đành phải sai người đến thương lượng với Bột La Thiếp Mộc Nhi, đề nghị được giảng hòa.

Bột La trả lời rằng giảng hòa cũng được, nhưng hoàng đế nhất định phải giao ra Sóc Tư Giám và Phác Bất Hoa — hai nhân vật này thuộc phe của Kỳ Hoàng hậu. Nguyên Thuận Đế không còn đường lui, chỉ đành giao hai người ấy ra. Bột La lập tức giết chết họ. Không chỉ vậy, Nguyên Thuận Đế còn phải ban “tội kỷ chiếu” — đây là một đạo chiếu thư để tự nhận lỗi trước thiên hạ — công khai thừa nhận sai lầm với Bột La, đích thân tạ lỗi, đồng thời khôi phục quan chức và binh quyền cho ông.

Đến khi mọi điều kiện đều được đáp ứng, Bột La Thiếp Mộc Nhi mới chịu hạ lệnh lui quân, rút khỏi Đại Đô.

Một vị hoàng đế đường đường là cửu ngũ chí tôn, cuối cùng lại phải cúi đầu nhận lỗi trước chính võ tướng của mình. Qua đó cũng có thể thấy, hoàng quyền của triều đình nhà Nguyên lúc bấy giờ đã suy yếu đến mức nào.

Sau khi Bột La Thiếp Mộc Nhi rút quân, Nguyên Thuận Đế càng nghĩ càng cảm thấy uất ức và nhục nhã. Ông tự hỏi: “Trẫm đường đường là thiên tử, sao lại có thể cúi đầu xin lỗi một bề tôi?” Không nuốt trôi được cơn tức ấy, Nguyên Thuận Đế lại sai người truyền lệnh cho Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi, bảo ông đem quân đánh Bột La, bởi vì Bột La đã dám lấn át và làm nhục hoàng đế.

Thế nhưng Bột La Thiếp Mộc Nhi vừa nghe tin triều đình lại muốn thảo phạt mình, liền một lần nữa dẫn quân kéo đến, nhanh chóng bao vây kinh thành. Trước thế quân bao vây uy hiếp, Nguyên Thuận Đế lại phải đích thân ra mặt xin lỗi. Sau đó, chẳng những không thể trị tội, hoàng đế còn phải tiếp tục thăng quan cho Bột La để xoa dịu tình hình.

Cục diện khi ấy quả thực vô cùng hỗn loạn. Đối với Nguyên Thuận Đế, đây quả thực là một nỗi nhục khó nói thành lời: thân là thiên tử mà hết lần này đến lần khác phải cúi đầu trước một võ tướng dưới quyền, uy nghi hoàng quyền gần như đã mất sạch.

Lúc này, thái tử vẫn đang lưu vong bên ngoài, ông chạy đến quân doanh của Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi, rồi lấy thân phận Tổng lĩnh binh mã thiên hạ, điều động quân đội của Khoách Khuếch đi thảo phạt Bột La Thiếp Mộc Nhi.

Từ đó, triều thần và quân đội nhà Nguyên bị chia thành hai phe đối địch. Một phe ủng hộ Bột La Thiếp Mộc Nhi, phe còn lại đứng về phía Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi. Hai bên dấy binh giao chiến, cuộc tranh chấp bùng nổ, trở thành một trận đánh tương tàn giữa những lực lượng quân sự mạnh nhất còn sót lại của nhà Nguyên.

Xét về tài cầm quân và thực lực, Bột La đương nhiên không phải đối thủ của Khoách Khuếch. Quân của Bột La liên tiếp thất bại, thế lực ngày càng suy yếu. Cuối cùng, trong một lần vào triều, Bột La Thiếp Mộc Nhi bị thích khách ám sát. Kẻ chủ mưu đứng sau vụ hành thích ấy chính là Nguyên Thuận Đế. Còn Lão Đích Sa và Thốc Kiên Thiếp Mộc Nhi — hai kẻ khơi nguồn cho trận đại họa này — về sau cũng lần lượt bị giết.

Một cuộc tranh quyền đoạt thế cuối cùng đã kết thúc trong máu. Sau những trận chém giết thảm khốc ấy, binh lực của triều Nguyên càng thêm hao tổn, nền móng quốc gia cũng theo đó mà lung lay sắp đổ. Triều Nguyên vốn đã ở vào thế nguy khốn, giang sơn nghiêng ngả giữa cơn loạn thế. Nay lại trải qua một trận nội chiến khiến nguyên khí đại thương, tình hình càng trở nên nguy cấp hơn bao giờ hết.

Nhờ giành được thắng lợi, Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi hộ tống thái tử trở về kinh thành. Thế nhưng Kỳ Hoàng hậu vẫn không từ bỏ dã tâm. Bà tiếp tục muốn Nguyên Thuận Đế nhường ngôi, đưa con trai mình lên làm hoàng đế. Kỳ Hoàng hậu hiểu rất rõ rằng, chỉ cần lôi kéo được Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi, có một đạo quân hùng mạnh như thế làm chỗ dựa, thì ngay cả hoàng đế cũng khó lòng chống lại. Vì vậy, bà tìm đến Khoách Khuếch để thương lượng.

Thế nhưng Khoách Khuếch đã từ chối thẳng thừng, không những không chịu đứng về phía Kỳ Hoàng hậu, mà còn lập tức dẫn đại quân rời đi. Kỳ Hoàng hậu vô cùng tức giận, từ đó sinh lòng oán hận Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi. Bà lại đến bên Nguyên Thuận Đế, liên tục gièm pha và nói xấu Khoách Khuếch. Cuối cùng, hoàng đế lại một lần nữa nảy sinh ý định thảo phạt vị đại tướng đang nắm giữ lực lượng quân sự mạnh nhất của triều đình.

Khi ấy, thế lực quân sự của Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi đã vô cùng hùng mạnh. Trong khi đó, các thế lực nổi dậy ở khắp nơi gần như đã chiếm lĩnh toàn bộ vùng đất phía nam Trường Giang. Bởi vậy, triều đình hạ lệnh cho Khoách Khuếch rằng: “Hãy đem quân xuống phương Nam, dẹp yên những đội quân phản loạn ấy”. Nhưng Khoách Khuếch đã thẳng thừng từ chối.

Nguyên nhân bởi vì binh quyền mà ông đang nắm giữ vốn do cha nuôi – Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi truyền lại. Năm xưa, khi Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi khởi binh, còn có một người tên là Lý Tư Tề cũng đồng thời dựng cờ chiêu mộ binh mã. Hai người vốn là bằng hữu, tuổi tác cũng xấp xỉ nhau.

Sau khi Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi qua đời, Lý Tư Tề cho rằng xét về tư lịch và công lao, binh quyền đáng lẽ phải được giao cho mình. Thế nhưng Sát Hãn lại truyền toàn bộ binh quyền cho người con nuôi là Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi. Vì vậy, Lý Tư Tề không phục, trước sau vẫn không chịu thần phục Khoách Khuếch.

Khoách Khuếch cũng hiểu rất rõ rằng Lý Tư Tề lúc nào cũng có thể âm thầm mưu tính, chờ cơ hội chiếm đoạt địa bàn. Nếu ông dẫn đại quân xuống phương Nam dẹp loạn, trong lúc hậu phương trống trải, Lý Tư Tề thừa cơ đánh úp, thì phải làm thế nào!? Bởi vậy, Khoách Khuếch nhất quyết không chịu xuất quân. Nhưng không tuân theo mệnh lệnh ấy thì cũng đồng nghĩa với việc công khai kháng chỉ. Nguyên Thuận Đế lại nghe theo lời gièm pha của Kỳ Hoàng hậu, bèn lấy cớ rằng Khoách Khuếch kháng chỉ, hạ lệnh tước bỏ binh quyền và chức vị của ông.

Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi biết tin thì nổi giận. Ông lập tức giết chết sứ giả của hoàng đế, đồng thời xử tử toàn bộ những quan viên do triều đình bổ nhiệm trong khu vực mình kiểm soát. Từ đây, mâu thuẫn giữa Khoách Khuếch và triều đình không còn là sự bất hòa âm thầm nữa, mà đã biến thành một cuộc đối đầu công khai, đẩy cơ nghiệp nhà Nguyên tiến thêm một bước đến bờ vực tan vỡ.

Khoách Khuếch đã kháng chỉ, hành động ấy chẳng khác nào công khai làm phản. Nguyên Thuận Đế lập tức phái quân thảo phạt.

Trong hàng ngũ dưới quyền của Khoách Khuếch, có một số kẻ tuyên bố rằng: “Người chúng ta trung thành không phải là ngài, mà là hoàng đế”. Sau đó, họ lần lượt phản bội Khoách Khuếch, chạy sang phía triều đình và quay giáo chống lại ông. Thế nhưng, bất kể hoàng đế huy động bao nhiêu binh mã, tất cả đều không phải là đối thủ của Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi. Quân triều đình giao chiến nhiều lần, cũng thất bại nhiều lần. Cuối cùng, Khoách Khuếch đã đánh tan toàn bộ những đạo quân được phái đến thảo phạt.

Đến lúc ấy, Nguyên Thuận Đế mới bắt đầu hối hận.

Bởi khi đó, Chu Nguyên Chương đã chiếm lĩnh vùng Giang Nam, và còn tiến quân làm chủ cả Sơn Đông và Hà Nam. Đại quân của ông đang áp sát phương Bắc, chỉ còn một bước nữa là có thể tiến đánh Đại Đô.

Trước nguy cơ mất nước ngay trước mắt, Nguyên Thuận Đế đành hạ mình xin lỗi Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi, hy vọng ông có thể dẫn quân đi đánh Chu Nguyên Chương. Nhưng đến lúc này, mọi chuyện đã là quá muộn.

Trong suốt quãng thời gian mà quân đội nhà Nguyên mải mê chém giết lẫn nhau, tự hao tổn binh lực và bào mòn nguyên khí của mình, thì ở phương Nam, Chu Nguyên Chương đã từng bước dựng nên nền móng bá nghiệp.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Đại Minh vương triều.

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>