Từ năm 755 đến 763, loạn An Sử đã giáng xuống đại Đường một trường kiếp nạn vô cùng trầm trọng. Ngoại trừ thời Đường Hiến Tông có một giai đoạn trung hưng ngắn ngủi trên danh nghĩa, còn lại thì Đại Đường từ đó gần như không bao giờ có thể phục hồi được nữa, và khoảng 150 năm sau thì diệt vong.
Nhìn tổng thể toàn bộ quá trình đánh dẹp loạn An Sử, có thể thấy rằng các hoàng đế đều rất nôn nóng, họ mong muốn có thể dập tắt phản loạn ngay trong một sớm một chiều.
Thực ra, khi biến loạn bùng nổ, phía triều đình trước hết phải giữ vững trận thế. Khi ấy, nhuệ khí của quân phản loạn phần lớn là dựa vào sự xung động lợi ích: chúng muốn tràn vào kinh thành, đoạt lấy giang sơn, để thủ lĩnh phản quân có thể xưng đế, còn bọn thuộc hạ thì trở thành khai quốc công thần.
Trong thời khắc như thế, hoàng đế càng phải có năng lực phán đoán chính trị tỉnh táo. Nếu thiên hạ hưởng thái bình đã lâu, bách tính sống tương đối yên ổn, thì lòng người tất nhiên sẽ hướng về triều đình. Chỉ cần triều đình kìm chân quân địch, không cho chúng tiến sâu, thì đối phương sẽ dần dần ly tán, mất lòng tin rồi suy kiệt, đó gần như là điều tất yếu.
Khi trước, vào thời Hán đã xảy ra loạn bảy nước, thì cục diện khi ấy cũng tương tự như vậy. Chu Á Phu đã chủ động bỏ nước Lương để kéo dài thời gian, nhằm kìm chân quân phản loạn. Đến khi ý chí chiến đấu của quân địch sa sút, ông mới cắt đứt đường lương thảo của chúng, và chỉ trong ba tháng là đã dẹp yên được loạn. Bởi vậy, khi thế giặc quá mạnh, thì quan trọng nhất là phải kéo dài thời gian và phòng thủ thật vững ở giai đoạn đầu.
Danh tướng Ca Thư Hàn trấn thủ Đồng Quan, đây chính là một quyết sách hết sức đúng đắn. Nhưng Đường Huyền Tông vì nôn nóng muốn thắng nên đã ép Ca Thư Hàn phải xuất quân, kết quả là ngay cả Đồng Quan cũng không giữ nổi. Sau này, lúc Lý Quang Bật và Sử Tư Minh đang giằng co ở Hà Dương, Đường Túc Tông cũng lại cưỡng ép Lý Quang Bật phải xuất quân tấn công, khiến quân triều đình đại bại.
Tất nhiên, trong toàn bộ quá trình ấy còn có sự phá hoại từ đám hoạn quan, từ những kẻ như Biên Lệnh Thành cho đến Ngư Triều Ân.
Do triều đình có tâm thái nôn nóng như vậy, nên khi Sử Tư Minh xin đầu hàng, nhà Đường chẳng những không truy cứu trách nhiệm phản loạn, mà trái lại còn phong hắn làm Quy Nghĩa vương, kiêm Phạm Dương tiết độ sứ. Nguyên tắc thưởng phạt vì thế trở nên hoàn toàn rối loạn.
Đến khi loạn An Sử đã kết thúc trên danh nghĩa, Sử Triều Nghĩa bị giết, nhưng bốn tướng theo hắn tạo phản là Tiết Tung, Trương Trung Chí, Điền Thừa Tự và Lý Hoài Tiên, họ đã đầu hàng vào phút cuối, vậy mà chẳng những không bị trừng phạt, trái lại mỗi người đều được chiếm giữ một vùng đất, tiếp tục làm tiết độ sứ.
Triều đình một mặt buông xuôi, mặt khác lại không yên tâm về những dư đảng này. Vậy nên họ bèn thiết lập thêm các phiên trấn ngay trong nội địa để phòng bị. Vì thế, sau loạn An Sử, số lượng phiên trấn chẳng những không giảm, mà còn ngày một nhiều hơn. Tình trạng ấy kéo dài suốt hậu kỳ nhà Đường và xuyên suốt thời Ngũ Đại Thập Quốc.
Do vậy, sau loạn An Sử, nhà Đường trên danh nghĩa là có một vị hoàng đế, nhưng trên thực tế, quốc gia đã rơi vào tình trạng chia cắt kéo dài hai trăm năm. Đến thời kỳ giữa và cuối của nhà Đường, các phiên trấn ngày càng không còn đặt triều đình vào mắt. Khi một tiết độ sứ của phiên trấn qua đời, họ tự chỉ định người kế nhiệm, rồi chỉ đến chỗ hoàng đế làm thủ tục phê chuẩn cho có lệ, gần như chẳng khác gì một quốc gia độc lập.
Đồng thời, loạn An Sử đã khiến triều đình phải điều động quân ở vùng Tây Bắc đi dẹp loạn, dẫn đến quân lực Tây Bắc và Tây Nam trở nên mỏng yếu. Hậu quả là quân Thổ Phồn và Nam Chiếu đã thừa cơ nổi dậy, cộng thêm người Hồi Hột ở phương Bắc, các thế lực này đã trở thành những mối uy hiếp nghiêm trọng đối với nhà Đường.
Người hiến kế cho Đường Đại Tông khiến đám dư đảng của Loạn An Sử có thể tiếp tục được giữ chức tiết độ sứ chính là Bộc Cố Hoài Ân. Trong quá trình đánh dẹp loạn An Sử, Bộc Cố Hoài Ân có thể nói là có cả công lẫn tội. Cả gia tộc Bộc Cố Hoài Ân có bốn mươi sáu người chết vì nước, bản thân ông cũng là tướng quân chiến đấu rất dũng mãnh. Nhưng Bộc Cố Hoài Ân lại có một ý nghĩ hết sức ích kỷ, đó là muốn nuôi giữ bọn giặc để bản thân trở nên quan trọng hơn. Bởi lẽ các phiên trấn ấy dù sao cũng là mối đe dọa đối với triều đình, nên nếu giữ chúng lại thì vai trò của những vị tướng thiện chiến như Bộc Cố Hoài Ân sẽ càng thêm trọng yếu.
Sau khi Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật lần lượt rời nhiệm sở, Bộc Cố Hoài Ân kế nhiệm làm Sóc Phương tiết độ sứ, còn Hà Đông tiết độ sứ thì do Tân Vân Kinh đảm nhận.
Khi trước, quân Hồi Hột do Bộc Cố Hoài Ân dẫn đường đã đánh bại được Sử Triều Nghĩa, ngay sau khi công phá Lạc Dương, quân Hồi Hột đã cướp bóc vô cùng dữ dội, Tân Vân Kinh hết sức bất mãn. Sau đó, khi quân Hồi Hột trên đường rút lui đi qua Hà Đông, Tân Vân Kinh đã đóng cửa không tiếp, lại còn phản đối việc triều đình thu nạp bọn dư đảng Loạn An Sử. Những điều này khiến mâu thuẫn giữa Tân Vân Kinh và Bộc Cố Hoài Ân ngày càng gay gắt.
Về sau, Tân Vân Kinh dâng biểu lên triều đình, tấu rằng Bộc Cố Hoài Ân có dấu hiệu mưu phản. Triều đình không lập tức trừng phạt, mà chỉ yêu cầu Bộc Cố Hoài Ân vào kinh thành để trình bày công việc. Bộc Cố Hoài Ân vì thế mà không dám vào kinh. Sau đó, triều Đường lại bổ nhiệm Quách Tử Nghi làm Sóc Phương tiết độ sứ, tước đoạt binh quyền của Bộc Cố Hoài Ân. Năm 764, Bộc Cố Hoài Ân đã phát động phản loạn.
Thuộc hạ của Bộc Cố Hoài Ân vốn thuộc binh đoàn Sóc Phương, họ đều là bộ hạ cũ của Quách Tử Nghi, nên khi Quách Tử Nghi vừa tới nơi, binh đoàn Sóc Phương lập tức đầu hàng. Binh sĩ của Bộc Cố Hoài Ân tan rã, chỉ còn lại khoảng ba trăm người. Ông ta đành phải bỏ chạy, tìm đến Đăng Lý Khả Hãn của Hồi Hột – vốn là con rể của ông – rồi tiếp đó lại liên kết với Thổ Phồn ở Tây Nam, cùng tiến đánh Phụng Thiên, tức là huyện Càn thuộc Thiểm Tây ngày nay, nằm ở phía tây Trường An. Tuy nhiên, Quách Tử Nghi đã đánh bại đợt tiến công này.
Đến năm 765, Bộc Cố Hoài Ân lại câu kết với Hồi Hột và Thổ Phồn, dẫn ba mươi vạn đại quân xâm nhập. Nhưng giữa đường ông mắc bệnh nặng mà qua đời. Lúc ấy, Quách Tử Nghi đóng quân tại Kinh Dương, quân số chưa đủ một vạn, đánh thì không thắng nổi, mà giữ cũng không thể giữ được. Khi nghe tin Bộc Cố Hoài Ân đã chết, mà quân Hồi Hột và Thổ Phồn không còn sự chỉ huy thống nhất, Quách Tử Nghi liền sai người đi thuyết phục Hồi Hột hợp lực đánh Thổ Phồn. Người Hồi Hột vốn rất kính trọng Quách Tử Nghi, họ gọi ông là Quách Lệnh Công.
Khi biết đây là ý của Quách Tử Nghi, người Hồi Hột tỏ ra kinh ngạc và nói: “Chúng tôi nghe rằng hoàng đế của các ngươi đã chết, Quách Lệnh Công cũng qua đời, nên mới dẫn đại quân đến”. Sứ giả đáp rằng hoàng đế vẫn an lành, Quách Lệnh Công cũng còn sống mạnh khỏe. Người Hồi Hột nửa tin nửa ngờ, họ nói: “Chẳng lẽ chúng ta bị Bộc Cố Hoài Ân lừa rồi sao? Nếu Quách Lệnh Công vẫn còn tại thế, chúng tôi mong được gặp ngài ấy”.
Khi việc này được sứ giả báo lại, Quách Tử Nghi liền chuẩn bị đi gặp quân Hồi Hột. Các tướng dưới quyền đều cho rằng việc này quá nguy hiểm. Thế nhưng Quách Tử Nghi nói: “Quân địch đông gấp mấy chục lần quân ta, hoàn toàn không thể đánh nổi. Ta nguyện một mình đi gặp họ để bày tỏ lòng chí thành của chúng ta.”
Vậy là Quách Tử Nghi chỉ dẫn theo vài chục người đến đại doanh của Hồi Hột, ông thậm chí còn không mặc giáp trụ. Binh sĩ Hồi Hột vừa nhìn thấy thì liền thốt lên: “Đúng là Quách lão Lệnh Công đây rồi!” Thấy vậy, kỵ binh đều xuống ngựa mà bái lạy.
Quách Tử Nghi bèn cùng họ dự tiệc, rồi lại tặng lễ vật để kết minh, tạo mối hòa hảo như cũ. Ông nói: “Nếu chư vị có thể quay giáo cùng chúng ta đánh Thổ Phồn, thì đó là việc dễ như trở bàn tay. Thiên thời như vậy, đừng bỏ lỡ. Vừa có thể thu được vật tư của chúng, lại vừa thắt chặt quan hệ với Đại Đường, chẳng phải là một công đôi việc sao?”
Lúc này, Thổ Phồn nghe tin Quách Tử Nghi có liên hệ với Hồi Hột thì lập tức rút quân. Quách Tử Nghi phái các bộ tướng cùng quân Hồi Hột truy kích, đại phá Thổ Phồn, chém năm vạn quân, bắt mười nghìn tù binh, thu lại toàn bộ số, gia súc, ngựa, lạc đà mà đối phương đã cướp, cứu được vô số người từng bị Thổ Phồn bắt làm nô lệ, nhiều không kể xiết.
Đó chính là đoạn giai thoại Quách Tử Nghi một mình thuyết phục quân Hồi Hột quay giáo đánh Thổ Phồn – một câu chuyện được truyền tụng cho đến tận ngày nay. Ông có công lao cái thế, nhưng lại rất khiêm cung và cẩn trọng, có lòng trung với vua, có lòng thành với bạn, một thân gánh vác an nguy của thiên hạ trong suốt hai mươi năm. Quách Tử Nghi lần lượt phụng sự quốc gia từ thời Đường Huyền Tông, Đường Túc Tông, Đường Đại Tông và Đường Đức Tông. Đến 85 tuổi thì qua đời.
