Tập 146: Lý Bạch xuất thế, trích tiên rơi xuống phàm trần

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 02/08/2026

Trong Tân Đường Thư, quyển 202 có ghi lại một đoạn như sau: “Lúc đầu, Bạch du ngoạn ở Tịnh Châu, gặp Quách Tử Nghi, thấy ông khác hẳn người thường. Quách Tử Nghi từng có lần phạm pháp, và Bạch đã đứng ra cứu ông thoát tội.” Ở đây, chữ “Bạch” chính là chỉ Lý Bạch.

Lý Bạch được công nhận là một trong những thi nhân vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Hoa. Hàn Dũ từng làm thơ ca ngợi Lý Bạch và Đỗ Phủ, viết rằng: “Lý – Đỗ văn chương tại, quang diệm vạn trượng trường.” Tức là nói văn chương của Lý Bạch và Đỗ Phủ đẹp như đang tỏa ánh quang diệm chiếu sáng muôn trượng. Hậu thế thường đặt Lý Bạch và Đỗ Phủ ngang hàng mà xưng tụng. Nhưng ngay chính Đỗ Phủ, trong những bài thơ hồi tưởng và hoài niệm về Lý Bạch, ông nói rằng: “Bạch dã thi vô địch” – tức là thơ của Lý Bạch không ai có thể sánh được.

Trong Cựu Đường Thư và Tân Đường Thư đều có truyện chép về Lý Bạch, xếp chung với nhiều thi nhân và văn sĩ khác. Lý Bạch là con cháu đời thứ chín của Lý Cảo, vị vua khai quốc của nước Tây Lương, trong thời Ngũ Hồ Thập Lục Quốc. Còn Đường Cao Tổ Lý Uyên là hậu duệ đời thứ bảy của Lý Cảo. Vì thế Lý Bạch và Đường Cao Tông thực ra là những người trong cùng một dòng tộc.

Tân Đường Thư chép rằng: khi Lý Bạch sinh ra, mẹ ông mộng thấy sao Trường Canh, tức là Thái Bạch Kim Tinh. Vậy nên mới đặt tên ông là Lý Bạch, tự Thái Bạch.

Trong ấn tượng của nhiều người, Lý Bạch thường là một nho sinh tiêu sái, có phong thái phiêu dật. Nhưng trong thời niên thiếu, Lý Bạch lại là một hiệp khách. Trong bài Lý Hàn Lâm Tập Tự có viết rằng Lý Bạch “thuở còn trẻ giữ khí phách hiệp nghĩa, từng tự tay giết người”. Ngay trong thơ của Lý Bạch, trong bài Tặng tòng huynh Tương Dương Thiếu Phủ Hạo, cũng nhắc đến chuyện này, thơ rằng:

“Kết phát vị thức sự, sở giao tận hào hùng.
Khước Tần bất thụ thưởng, kích Tấn Ninh vi công.
Thác thân bạch nhận lý, sát nhân hồng trần trung.
Đương triều ấp cao nghĩa, cử thế xưng anh hùng.”

Ý của đoạn thơ là: thuở thiếu niên, ta chưa thông đạt sự đời, những người ta kết giao đều là bậc anh hùng hào kiệt. Ta ngưỡng mộ Lỗ Trọng Liên, người giúp nước Triệu đuổi quân Tần nhưng không nhận phong thưởng, ta ngưỡng mộ Chu Hợi, người vung búa đánh Tấn Bỉ mà không màng công lao. Đây đều là những sự việc xảy ra trước và sau chuyện Tín Lăng Quân đoạt binh phù để cứu nước Triệu, vốn là sự tích trong thời Đông Chu liệt quốc.

Cho nên, trong thời niên thiếu, Lý Bạch tôn sùng những bậc anh hùng như vậy. Câu thơ của ông rằng “thác thân bạch nhận lý, sát nhân hồng trần trung” nghĩa là: lúc trẻ ta từng dấn thân vào chốn đao kiếm, thấy chuyện bất bình thì ra tay diệt kẻ ác. Nhưng cụ thể là giết ai, giúp ai, thì Lý Bạch không nói, bởi vì ông không muốn kể công. Đó chính là tinh thần hiệp nghĩa chân chính.

Một hiệp khách có thể không màng an nguy bản thân để cứu giúp người khác, nhưng cũng không trông đợi sẽ nhận được bất kỳ lợi lộc nào từ việc mình làm. Lý Bạch có một bài thơ rất nổi tiếng là “Hiệp Khách Hành”, trong đó bốn câu thơ rằng:

Thập bộ sát nhất nhân
Thiên lý bất lưu hành
Sự liễu phất y khứ
Thâm tàng thân dữ danh

Những câu này đã phác họa võ công siêu quần của một bậc hiệp khách, nhưng điều quan trọng hơn là phong thái “sự liễu phất y khứ, thâm tàng thân dữ danh” – tức là làm xong việc nghĩa thì liền phất áo mà đi, ẩn thân nơi thế tục mà chẳng cần tiếng tăm. Đó cũng chính là hình ảnh nội tâm của Lý Bạch.

Lý Bạch từ lúc mười tuổi đã đọc thông Thi Kinh và Thượng Thư. Khi Tô Đĩnh đang giữ chức quan Thứ sử Ích Châu, có lần gặp được Lý Bạch, Tô Đĩnh đã kinh ngạc mà nói: “Ngươi là anh tài trời sinh, chỉ cần học thêm đôi chút, ắt có thể sánh với Tư Mã Tương Như”.

Thế nhưng ở thời điểm đó, hứng thú của Lý Bạch lại không nằm ở đọc sách kinh điển. Tân Đường Thư chép rằng ông ưa học thuật tung hoành, thích đánh kiếm, thích làm việc hiệp nghĩa, coi nhẹ tiền tài mà trọng việc cứu đời giúp người.

Điều này cho thấy trong thời niên thiếu, Lý Bạch một lòng hướng về khí phách hiệp nghĩa, ông hành xử như một hiệp sĩ giang hồ, khoáng đạt mà rộng rãi, coi trọng nghĩa khí hơn mọi lợi ích cá nhân.

Trong bài tự thuật Thượng An Châu Bùi Trường Sử Thư, Lý Bạch nói rằng chỉ chưa đầy một năm mà ông đã tán hết hơn ba mươi vạn lạng vàng bạc, vì hễ gặp những công tử sa sút thì đều ra tay cứu giúp. Ấy chính là coi nhẹ tiền tài mà thích giúp người.

Thơ của Lý Bạch kỳ vĩ và huy hoàng, như đại giang cuồn cuộn từ viễn phương tràn đến, rồi gào thét mà đi. Có những câu thơ tả cảnh như:

Sơn tùy bình dã tận,
Giang nhập đại hoang lưu。
Nguyệt hạ phi thiên kính,
Vân sinh kết hải lâu.

Tạm dịch: Bóng núi dần xa đồng hoang hiện, mênh mông dòng nước giữa hoang vu. Trăng soi mặt nước như gương sáng, Mây trắng gợn lên những lâu đài.

Lại còn câu thơ như: “Phi lưu trực hạ tam thiên xích, nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.”

Tạm dịch: “Nước rơi thẳng xuống ba nghìn thước, như dải ngân hà từ cửu thiên”.

Lý Bạch có những câu thơ mang khí tượng vô cùng hùng vĩ, khoáng đạt. Người bình thường nếu viết những câu như thế sẽ khiến người đọc cảm thấy như đang gồng mình để nói lời to tát, nhưng Lý Bạch thì có thể viết ra nhẹ tựa như lướt gió, “cử trọng nhược khinh”. Sở dĩ có thể như vậy là vì ông đã đứng trên một cảnh giới vượt khỏi phàm nhân. Chỉ khi đứng ở tầng cao hơn mới có thể nhìn xuống thế gian mà phác họa ra đại khí tượng một cách tự nhiên, tùy tay là thành.

Trong các bài Tây Thượng Liên Hoa Sơn và Mộng Du Thiên Mụ Ngâm Lưu Biệt, hình tượng mà Lý Bạch thể hiện là một người tầm tiên mà đắc đạo, với phong thái siêu phàm thoát tục.

Lý Bạch từng có câu thơ rằng:

Thanh Liên cư sĩ trích tiên nhân
Tửu tứ tàng danh tam thập xuân
Hồ Châu Tư Mã hà tu vấn
Kim Túc Như Lai thị hậu thân.

Ý thơ nói rằng: “Ta là tiên nhân bị giáng xuống trần, lấy hiệu là Thanh Liên cư sĩ, ba mươi năm ẩn danh nơi quán rượu. Tư Mã ở Hồ Châu chớ hỏi lai lịch ta nữa, vì ta chính là đời sau của Kim Túc Như Lai”.

Bởi vì Lý Bạch đã nhận ra mình là tiên nhân giáng thế, nên đương thời người ta gọi ông là “Lý Trích Tiên”. 

Rất nhiều bài thơ của Lý Bạch là có ý cảnh sâu xa, dư vị vô cùng. Như trong bài thơ Độc Tọa Kính Đình Sơn, ông viết rằng:

Chúng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn
Tương khán lưỡng bất yếm
Chỉ hữu Kính Đình Sơn.

Tạm dịch là: Bầy chim bay cao rồi khuất hẳn, áng mây trôi đơn độc nhẹ nhàng, ta cùng núi nhìn nhau không chán, chỉ còn thấy ngọn núi Kính Đình.

Trong bài thơ này, Lý Bạch như đang mô tả cảnh giới thiên nhân hợp nhất, đó là một sự tĩnh lặng thanh khiết vượt ngoài bụi trần. Chính vì vậy mà Lý Bạch được tôn xưng là Thi Tiên.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tùy Đường thịnh thế

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>