Khi Đại Đường quốc lực hưng thịnh, vạn bang lai triều, thì những bài thơ trong thời thịnh thế chính là sự phản chiếu của khí tượng ấy. Trong thời đại này, có ba thi nhân vĩ đại là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy. Lý Bạch được mệnh danh là thi tiên, thơ của ông có khuynh hướng Đạo gia. Đỗ Phủ được mệnh danh là thi thánh, thơ của ông có khuynh hướng Nho gia. Còn Vương Duy được người đời gọi là thi Phật, vì thơ của ông có khuynh hướng Phật gia.
Trong những bài trước, chúng tôi đã giới thiệu sơ lược về thi tiên Lý Bạch, ông là một người tu luyện theo Đạo gia. Còn Đỗ Phủ là thi thánh, khuynh hướng Nho gia. Thơ của Đỗ Phủ, đặc biệt là sau loạn An Sử, khi mà chính bản thân ông phải trải qua cảnh phiêu bạt cơ hàn, con cái lại chết đói trong chiến loạn, nên thơ của ông mang sắc thái trầm uất, nghẹn ngào, chứa đựng nỗi bi thương trước thế cuộc và con người.
Còn nhà thơ Vương Duy thì được người đời gọi là thi Phật, ông là người tu luyện theo Phật gia. Thơ, họa và nhạc của Vương Duy được xem là “tam tuyệt”. Thơ của ông giống như tranh, có những câu thơ như “minh nguyệt tùng gian chiếu, thanh tuyền thạch thượng lưu”, hoặc như câu “đại mạc cô yên trực, trường hà lạc nhật viên”, hay là câu “giang lưu thiên địa ngoại, sơn sắc hữu vô trung”, đó là những câu thơ đẹp như tranh vẽ. Người ta đọc thơ, mà trong đầu như hiện lên bức tranh phong cảnh tuyệt hảo.
Ba thi nhân vĩ đại ấy thực ra cũng phản chiếu sự hưng thịnh của tôn giáo trong thời thịnh thế của Đại Đường. Đại Đường là thời kỳ mà Nho – Thích – Đạo đều cực kỳ phát đạt. Khi đó, kinh điển Nho gia chính là nội dung của khoa cử, nên kẻ sĩ đều chuyên cần học tập không biết mệt mỏi.
Còn Đạo gia thì sao? Trong Tân Đường thư quyển thứ 70 lấy Chuyên Húc làm thủy tổ, ông thuộc Tam Hoàng Ngũ Đế thời cổ đại. Nếu lần theo dòng thế hệ đó, chúng ta sẽ thấy Lão Tử thời Xuân Thu có tên tục là Lý Nhĩ, cho đến tướng quân Lý Quảng thời Hán, rồi đến Đường Cao Tổ Lý Uyên. Bởi vậy, các hoàng đế nhà Đường cho rằng mình chính là hậu duệ của Lão Tử, nên địa vị của Đạo gia khi ấy là rất cao.
Khi chúng tôi nói đến loạn An Sử, có kể về việc Trương Tuần trước khi khởi binh đã đến miếu Lão Tử mà khóc tế, bởi vì nhà Đường xem Lão Tử là tổ tông. Do đó trong thời Đường, địa vị của Đạo gia dĩ nhiên là cực kỳ tôn quý.
Còn Phật gia thì sao? Sự hưng thịnh của Phật giáo đã bắt đầu từ triều Tùy. Khi trước, lúc nói về thân thế của Tùy Văn Đế Dương Kiên, chúng tôi từng nhắc rằng khi ông ra đời, có một ni cô đã dự ngôn rằng Phật giáo sẽ trải qua pháp nạn, nhưng rồi sẽ được Tùy Văn Đế phục hưng trở lại. Về sau quả nhiên đã xảy ra sự kiện Bắc Chu Vũ Đế đàn áp Phật giáo.
Đến khi Tùy Văn Đế Dương Kiên lên ngôi, ngay vào năm Khai Hoàng nguyên niên, ông đã ban chiếu khôi phục Phật giáo, cho phép dân chúng xuất gia, lại ra lệnh cho người dân góp tiền đúc tượng Phật. Đến lúc Đường Cao Tổ Lý Uyên, ông từng nghe lời Phó Dịch, định sẽ ép tăng ni hoàn tục và phá hủy tự viện Phật giáo, nhưng ngay sau đó sự biến Huyền Vũ Môn xảy ra, khiến Phật giáo thoát khỏi một phen tai kiếp nữa.
Người Trung Hoa khi nói đến lịch sử triết học, họ thường lấy triều đại làm ranh giới để phân định tư tưởng nổi bật của từng thời. Triết học thời Tiên Tần được gọi là “tử học”, tức là học thuyết của Bách Gia chư tử, triết học thời Lưỡng Hán thì gọi là “kinh học”, tức là nghiên cứu kinh điển Nho gia, triết học thời Ngụy Tấn được gọi là “huyền học”, họ tập trung nghiên cứu kinh điển Đạo gia và Chu Dịch, đến thời Tùy – Đường thì là “Phật học”, sau đó đến thời Tống – Minh thì gọi là “lý học”. Nói cách khác, tư tưởng Phật gia đạt đến đỉnh cao nghiên cứu và phát triển chính là vào thời Tùy – Đường.
Phần lớn các tông phái của Phật giáo đều được hình thành trong thời Tùy – Đường. Chẳng hạn, tại núi Thiên Thai ở Chiết Giang, cao tăng Trí Khải đã giảng pháp và làm rạng rỡ Thiên Thai tông, lấy Diệu pháp liên hoa kinh làm kinh điển căn bản, nên còn được gọi là Pháp Hoa tông. Tông phái này được sáng lập vào thời Tùy.
Vào đầu niên hiệu Khai Hoàng của Tùy Văn Đế, đại sư Đỗ Thuận đã giảng Hoa Nghiêm kinh tại núi Chung Nam, sáng lập nên Hoa Nghiêm tông.
Sau đó, pháp sư Huyền Trang từ Ấn Độ thỉnh kinh trở về, ông sáng lập Duy Thức tông, còn gọi là Pháp Tướng tông. Các đệ tử của ông dựa vào bản dịch Câu Xá luận của Huyền Trang mà lập nên Câu Xá tông.
Đầu đời Đường còn có Luật tông, chú trọng vào giới luật. Trong Luật tông có một vị cao tăng nổi tiếng là Giám Chân. Theo lời thỉnh cầu của lưu học sinh Nhật Bản (khi ấy gọi là “khiển Đường sứ”), Giám Chân đã sáu lần vượt biển sang Nhật. Cuối cùng, dù cho đôi mắt bị mù, thì lần vượt biển cuối cùng của ông cũng đã thành công. Pháp sư Giám Chân có ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Nhật Bản. Thời đó, vua của Nhật bản là Thiên hoàng, cùng Hoàng hậu và các Thái tử đều do Giám Chân truyền giới, quy y cửa Phật.
Thời Đường còn có ba tông phái có ảnh hưởng hết sức sâu rộng, không chỉ trong giới Phật giáo mà cả trong tầng lớp bình dân, đó là Tịnh Độ tông, Mật tông và Thiền tông.
Tịnh Độ tông do cao tăng Huệ Viễn thời Đông Tấn sáng lập, đến thời Đường thì bắt đầu hưng thịnh rực rỡ. Ba kinh điển quan trọng nhất của Tịnh Độ tông này là A Di Đà kinh, Vô Lượng Thọ kinh và Quán Vô Lượng Thọ kinh. Tịnh Độ tông tôn thờ A Di Đà Phật, cho rằng nhất tâm niệm Phật thì có thể vãng sinh về thế giới Cực Lạc của Ngài. Tịnh Độ tông đến nay vẫn còn rất nhiều người tu tập. Mặc dù nhìn bề ngoài, phương pháp tu luyện của này có vẻ đơn giản, nhưng trên thực tế thì không dễ chút nào.
Mật tông được chia thành hai nhánh. Một nhánh truyền vào Hán địa trong niên hiệu Khai Nguyên, cũng được gọi là Chân Ngôn tông. Ba vị cao tăng Mật tông đầu tiên đến Trung Nguyên truyền pháp là Thiện Vô Úy, Kim Cang Trí và Bất Không, họ được xưng tụng là “Khai Nguyên tam đại sĩ”. Cả ba đều đến từ Ấn Độ. Trong đó, thầy của thầy Kim Cang Trí chính là Long Thọ Bồ Tát, còn Bất Không là đệ tử của Kim Cang Trí. Bất Không từng cử hành lễ quán đỉnh cho Đường Huyền Tông, Pháp môn này khi ấy được gọi là “Đường Mật”. Sau này, đến thời Đường Vũ Tông tiến hành ‘diệt phật’, thì Đường Mật đã thất truyền tại Trung Quốc.
Nhánh thứ hai của Mật tông là Tạng Mật, do Liên Hoa Sinh đại sĩ truyền từ Ấn Độ sang Tây Tạng, còn gọi là Lạt Ma giáo. Vì người Mông Cổ và người Mãn Châu đều tín phụng Lạt Ma giáo, nên triều Nguyên và triều Thanh đều hết sức coi trọng tông phái này.
Ung Hòa cung ở Bắc Kinh vốn là phủ đệ của Hoàng đế Ung Chính khi ông còn là hoàng tử, cũng là nơi Hoàng đế Càn Long chào đời. Về sau, Càn Long cải biến nơi này thành tự viện, trở thành một ngôi Lạt Ma tự.
Sự hưng thịnh của Phật giáo đã kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của sự nghiệp dịch kinh sách, đồng thời nghệ thuật Phật giáo trong thời Đường cũng đạt được những bước tiến to lớn. Triều Đường tiến hành khai tạc các hang đá trên quy mô lớn, vẽ các bức bích họa và tạc tượng Phật. Phần lớn số lượng khổng lồ các bức bích họa trong Đôn Hoàng thạch quật đều được lưu lại trong giai đoạn đầu của nhà Đường, và trong thời kỳ nhà Đường hưng thịnh nhất.
Vào thời Đường đã xuất hiện kỹ thuật in khắc bản gỗ, tức là người ta khắc toàn bộ nội dung của trang sách lên một tấm gỗ, sau đó quét mực lên mặt khắc để in lên giấy. Đây là kỹ thuật in ấn hoàn chỉnh đầu tiên của nhân loại. Điều này khác với kỹ thuật in bằng chữ rời hiện nay, bởi vì cách in chữ rời sau này mới được phát minh vào đời Tống. Hiện nay chúng ta còn có thể tìm thấy ấn phẩm in khắc gỗ bản sớm nhất chính là Kim Cang Kinh in vào cuối đời Đường.
Vào thời Đường, ngoài sự hưng thịnh của Nho – Thích – Đạo, nhiều tôn giáo từ phương Tây và vùng Trung Đông cũng truyền vào Trung Quốc. Chẳng hạn như Cảnh giáo, đây là một nhánh của Ki-tô giáo, đã truyền vào Trung Quốc vào năm Trinh Quán thứ chín. Đường Thái Tông ban chiếu cho lập chùa, khi đó gọi là “Ba Tư tự”. Đến thời Đường Cao Tông, Cảnh giáo đã được truyền bá rất rộng. Về sau, khi Đường Vũ Tông tiến hành ‘diệt phật’, thì Cảnh giáo cũng bị cấm và từ đó suy tuyệt.
