Tập 32: Sự trỗi dậy của Hàn Tín – Binh tiên vang dội một thời

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 26/09/2025

Lưu Bang bị phong đến Hán Trung, thuộc hạ lần lượt bỏ trốn. Một ngày nọ, có người báo với Lưu Bang rằng: Thừa tướng Tiêu Hà cũng đã bỏ trốn. Lưu Bang kinh ngạc và tức giận đến thất sắc, cảm giác như mất đi cả hai cánh tay vậy. Nhưng chỉ sau một hai ngày, Tiêu Hà lại quay về. Ông nói với Lưu Bang rằng mình không hề bỏ trốn, mà là đi đuổi theo một người đã trốn đi — người đó chính là Hàn Tín.

Tư Mã Thiên trong Sử ký có viết riêng một truyện về Hàn Tín, gọi là Hoài Âm hầu liệt truyện, vì sau này Hàn Tín được phong làm Hoài Âm hầu.

Thời kỳ Sở – Hán tranh hùng, có hai người cùng tên là Hàn Tín xuất hiện. Một người là đại tướng quân Hàn Tín mà chúng ta quen thuộc, người kia là Hàn Tín – là quốc vương của nước Hàn. Để phân biệt, người ta gọi vị quốc vương ấy là Hàn vương Tín, còn đại tướng quân Hàn Tín thì gọi theo tên thật. Truyện về Hàn vương Tín được chép trong Hàn Tín Lô Uý liệt truyện, sau này chúng ta cũng sẽ nhắc đến.

Hàn Tín là người Hoài Âm, nay thuộc huyện Hoài Âm, tỉnh Giang Tô. Thuở nhỏ nhà ông rất nghèo, nhưng chúng ta có thể suy đoán, tổ tiên của Hàn Tín rất có thể từng là quý tộc. Vì có bốn bằng chứng như sau:

Thứ nhất, Hàn Tín vừa có họ, vừa có tên. Chúng ta biết rằng, thời xưa chỉ có quý tộc mới có đủ họ và tên; dân thường thường chỉ có họ mà không có tên riêng. Ví dụ như Lưu Bang thì thật ra gọi là Lưu Quý, tức là “Lưu Tứ” – là con thứ tư trong nhà họ Lưu. Ông vốn xuất thân bình dân nên không có tên riêng. Còn Hàn Tín thì lại có cả họ lẫn tên, khả năng cao là thuộc dòng dõi quý tộc.

Thứ hai, Hàn Tín mang theo gươm đao. Hoài Âm hầu liệt truyện có chép rằng Hàn Tín thích đeo kiếm. Đeo kiếm xưa kia là biểu tượng thân phận của tầng lớp quý tộc, vì vậy việc Hàn Tín có kiếm cũng cho thấy khả năng ông xuất thân quý tộc.

Thứ ba, năm xưa khi Hàn Tín lâm vào cảnh nghèo khó, có một bà lão giặt đồ đã cho ông ăn. Bà ấy gọi ông là vương tôn, tức là cháu nội của một vị vua nào đó. Đây cũng là một chi tiết đáng chú ý.

Thứ tư, Hàn Tín là người từng đọc sách, nhất là binh thư. Mà việc đọc sách thời đó là điều rất xa xỉ, vì sách không phải được in như bây giờ mà đều phải sao chép bằng tay, nên giá thành rất cao.

Như vậy, Hàn Tín có sách để đọc, có kiếm để đeo, được gọi là vương tôn, lại có đầy đủ họ và tên — tất cả những điều này đều cho thấy ông rất có thể là người xuất thân quý tộc.

Tất nhiên, sau khi Lục quốc bị diệt, gia cảnh của Hàn Tín có lẽ cũng sa sút, trở thành dân thường, nhà nghèo túng. Lại không có gì quá nổi bật hay thiện đức đáng kể, cho nên không ai tiến cử ông vào làm quan. Ông cũng không biết buôn bán, vì vậy thường xuyên phải đi ăn nhờ.

Một trong những nơi ông hay đến ăn nhờ là nhà của đình trưởng ở hương Hạ. Hạ hương là tên địa phương, đình trưởng là chức quan. Chúng ta biết rằng người xưa cứ mười dặm thì đặt một đình, đình trưởng là người phụ trách trị an ở cấp cơ sở. Lưu Bang thời trẻ cũng từng làm đình trưởng ở Tứ Thủy.

Hàn Tín thường đến nhà đình trưởng ở Hạ hương để ăn nhờ, kéo dài mấy tháng liền. Ngày nào đến giờ ăn cơm, ông cũng xuất hiện. Sau này, vợ của đình trưởng cảm thấy phiền, bèn nghĩ kế: “Vậy thì ta tranh thủ ăn trước khi Hàn Tín đến.”

Bà ta dậy từ sáng sớm nấu cơm, gọi cả nhà dậy ăn trước, sau đó mới nằm nghỉ. Đến giờ ăn, Hàn Tín lại tới, thấy cơm đã ăn hết thì hiểu ngay. Ông rất không vui, nổi giận rồi tuyệt giao với đình trưởng Hạ hương, từ đó không thèm qua lại nữa.

Nhưng chuyện ăn uống vẫn chưa giải quyết được, nên Hàn Tín ra bờ sông câu cá. Khi câu cá, ông cũng không câu được bao nhiêu, nên vẫn không đủ ăn. Người ông gầy ốm, mặt mũi xanh sao.

Lúc đó, bên bờ sông có nhiều bà lão đang giặt bông, gọi là phiêu mẫu – tức là những người giặt ruột gối, ruột chăn bằng tay. Mỗi người đều mang cơm theo để ăn trưa. Có một bà lão nhìn thấy Hàn Tín còn trẻ, dáng người cao lớn, mà lại không có gì ăn, trông rất đáng thương, bèn chia phần cơm của mình cho Hàn Tín.

Thế là từ đó, Hàn Tín bắt đầu ăn nhờ ở chỗ bà phiêu mẫu ấy, kéo dài đến mấy chục ngày. Mỗi ngày bà đi giặt bông đều mang theo phần cơm rồi đưa cho Hàn Tín.

Đến một hôm, bà nói với Hàn Tín:

— Bông tôi đã giặt xong rồi, ngày mai sẽ không ra đây nữa. Chuyện ăn uống của cậu, cậu tự lo lấy nhé.

Hàn Tín đáp:

— Mấy chục ngày qua bà đã nuôi tôi ăn cơm, đó là ơn đức rất lớn. Sau này, tôi nhất định sẽ báo đáp tử tế.

Phiêu mẫu cười nói:

— Một người đàn ông mà cơm còn không có mà ăn, còn nói gì đến chuyện báo ơn?

Thế rồi bà rời đi.

Từ đoạn ghi chép này trong Sử ký, có thể thấy Hàn Tín là người có ngạo cốt — tức là kiêu hãnh. Ai không cho ăn thì dứt khoát không đến nữa, đoạn tuyệt không qua lại. Nhưng đồng thời, ông cũng mang phong thái của một hiệp sĩ thời cổ: có ơn thì phải báo. Cho nên, có thể nói trong Hàn Tín vẫn có khí chất quý tộc.

Tuy nhiên, kiểu ngạo cốt ấy lại thường không được dân hiểu và chấp nhận. Và chính vì thế, Hàn Tín sớm gặp phải một rắc rối.

Ở nơi Hàn Tín đang sống có một nhà đồ tể. Nhà ấy có một thiếu niên, nhìn thấy Hàn Tín thì bực mình lắm, hắn nói:

— Ngươi không chịu làm gì, chỉ lo đeo đao mang kiếm, người cao lớn thế kia thì định làm cái gì?

Một hôm, hắn ta chặn đường Hàn Tín, rồi nói:

— Thân cao lớn, lại thích đeo đao kiếm, mà trong lòng thì nhát gan. Nếu có gan, ngươi hãy giết ta đi.

Giống như cảnh Dương Chí gặp phải tên lưu manh Ngưu Nhị trong truyện Thủy Hử, hắn ta khiêu khích Hàn Tín rằng:

— Nếu không dám giết, thì phải chui qua háng ta!

Lúc đó có đám đông vây quanh xem Hàn Tín phản ứng thế nào. Sử ký chỉ dùng ba chữ để miêu tả là: “Thục thị chi” — tức là Hàn Tín lặng lẽ quan sát, nhìn chằm chằm vào tên kia, rất lâu không nói, không giận, cũng không lộ sắc mặt. Rồi ông cúi đầu, lặng lẽ chui qua háng hắn.

Mọi người xung quanh phá lên cười, đều nói Hàn Tín là kẻ hèn nhát.

Nhưng nếu xét kỹ thì Hàn Tín không phải kẻ nhát gan. Người thường rơi vào cảnh ấy thì hoặc là nổi giận, hoặc là hoảng loạn, hoặc là xấu hổ đến mức không chịu nổi. Hàn Tín thì hoàn toàn không như vậy. Ông rất bình tĩnh, đánh giá thiệt hơn của việc có nên chui hay không. Sau khi cân nhắc xong, ông lựa chọn cúi đầu mà đi.

Hàn Tín là người cực kỳ lý trí. Chính sự lý trí ấy sau này đã nhiều lần cứu mạng ông.

Chúng ta đều biết rằng, để trở thành một đại tướng quân, thì điều quan trọng nhất là luôn giữ được cái đầu tỉnh táo và lý trí, tuyệt đối không được để cảm xúc cá nhân chi phối.

Nếu khi đó Hàn Tín nổi giận, đứng dậy đánh nhau với tên đồ tể, hoặc rút kiếm giết hắn, thì chẳng khác nào đã để cho cảm xúc của mình bị đối phương điều khiển. Mà một người làm tướng, thì phải là người có thể đưa ra quyết định trên chiến trường mà không bị tình cảm cá nhân làm mờ lý trí.

Cha của Tô Đông Pha là Tô Tuân – một trong “Đường Tống bát đại gia” – từng viết rằng:

Vi tướng chi đạo, đương tiên trị tâm.
Thái Sơn băng ư tiền nhi sắc bất biến,
Mi lộc hưng ư tả nhi mục bất thuận,
Nhiên hậu khả dĩ chế lợi hại, khả dĩ đãi địch.

Nghĩa là:

Núi đổ trước mặt, lòng không động,
Nai chạy bên mình, mắt chẳng lay.
Giữ vững tâm yên trong giông tố,
Mới hay thắng bại ở gan dày.

Có nghĩa là: Đạo làm tướng, trước hết phải tu tâm. Thấy Thái Sơn sụp đổ ngay trước mặt mà sắc mặt vẫn không đổi, thấy nai rừng chạy ngang qua mà mắt cũng không động, như vậy mới có thể làm chủ được lợi hại, có thể chờ đợi và đối đầu với kẻ địch.

Kẻ nào không kiểm soát được cảm xúc, thì sẽ không thể có tâm lý vững vàng. Người như vậy — nghe khen là mừng rỡ, bị khích là nổi giận, thấy lợi thì tham, thấy địch thất bại là kiêu ngạo — người như thế chắc chắn sẽ thua trận.

Bởi vậy, một vị tướng — hay nói rộng ra là người làm nên đại sự — phải có tâm lý vững như sắt đá.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tần Hoàng Hán Vũ

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>