Tập 7: Mầm móng họa loạn của triều Nguyên, ẩn tàng ngay trong thời thịnh trị

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 28/06/2026

Thời của Hốt Tất Liệt là thời kỳ mà Đại Nguyên bước lên đỉnh cao cường thịnh. Không chỉ cương vực rộng lớn đến mức xưa nay hiếm có, mà triều đình còn thiết lập một loạt chế độ chính trị và kinh tế nhằm duy trì sự thống nhất của đế quốc mênh mông này. Cũng chính vào thời này, Marco Polo đặt chân đến Trung Quốc, rồi qua những ghi chép của mình, ông đã phác họa trước mắt người phương Tây một quốc gia phồn hoa, giàu có, gần như là huyền thoại. Thế nhưng, bên dưới cảnh tượng thịnh thế, mầm họa đã âm thầm ẩn tàng. 

Triều Nguyên tồn tại tổng cộng hơn chín mươi năm. Trong đó, riêng thời Hốt Tất Liệt đã kéo dài 35 năm; vị hoàng đế cuối cùng là Nguyên Thuận Đế cũng trị vì trong 35 năm. Thế nhưng, trong khoảng 20 năm ngắn ngủi nằm giữa hai thời kỳ ấy, ngôi vị hoàng đế đã trải qua gần mười lần thay đổi. Vì vậy, sự biến động đế vị trong giai đoạn trung kỳ của triều Nguyên có thể nói là vô cùng hỗn loạn.

Chế độ kế thừa của triều Nguyên từ đầu đến cuối vẫn luôn là một vấn đề nghiêm trọng. Chúng ta biết rằng, ở Trung Quốc từ thời nhà Hạ trở đi, việc truyền ngôi thường là theo nguyên tắc “cha mất thì con nối”, hoặc “anh mất thì em kế vị”. Đến thời nhà Chu, thiết lập chế độ “phân phong theo đẳng cấp tông pháp” lấy con trưởng dòng chính làm người kế thừa. Bởi vậy, sau thời nhà Chu, các triều đại về cơ bản đều lấy con trưởng dòng chính làm người nối ngôi, rất hiếm khi còn xuất hiện tình huống “anh mất em nối”.

Nhưng có hai triều đại là ngoại lệ: đó là triều Nguyên và triều Thanh. Cả hai đều là những vương triều do các dân tộc thiểu số kiến lập. Nếu chế độ kế thừa không đủ rõ ràng, tất sẽ nảy sinh vấn đề. Bởi khi ấy, nhiều người sẽ cảm thấy mình cũng có tư cách bước lên ngôi vị, và một khi ai cũng cho rằng mình có quyền kế thừa, thì cuộc tranh đoạt sẽ bắt đầu. Từ đó, đủ loại âm mưu, thủ đoạn, chính biến, thậm chí cả xung đột quân sự đều có thể liên tiếp bùng phát.

Triều Thanh thực hành chế độ “di chiếu lập trữ”. Nghĩa là khi hoàng đế còn tại thế, sau khi đã chọn xong người kế vị, ông sẽ viết tên người ấy vào một đạo mật chiếu, rồi đặt phía sau tấm biển “Chính Đại Quang Minh” trong cung Càn Thanh. Đợi đến khi hoàng đế băng hà, triều đình mới lấy di chiếu ra rồi tuyên đọc, từ đó xác định ai sẽ đăng cơ kế vị. Nguyên tắc lựa chọn trữ quân của nhà Thanh về cơ bản là “lập hiền”, tức là trong hàng hậu duệ hoàng tộc, chọn ra người có năng lực nhất để nối ngôi.

Còn chế độ kế thừa của triều Nguyên là khá hỗn loạn. Thuở ban đầu, triều Nguyên thực hành chế độ Khố Lý Nhĩ Thái. Đó chính là hội nghị gia tộc do con cháu của Thành Cát Tư Hãn cùng tụ họp với nhau, rồi đề cử ra vị Đại Khả hãn của Mông Cổ. Oa Khoát Đài Khả hãn và Quý Do Khả hãn đều được đề cử theo cách ấy.

Thế nhưng sau khi Quý Do Khả hãn băng hà, cuộc tranh đoạt ngôi vị Đại hãn đã liền trở nên vô cùng kịch liệt. Bởi lẽ, tuy đều là con cháu của Thành Cát Tư Hãn, nhưng các gia tộc hậu duệ lại phân thành những phe phái khác nhau.

Thành Cát Tư Hãn có bốn người con trai dòng chính. Con trưởng là Truật Xích được phong đất ở Hãn quốc Khâm Sát. Người con thứ hai là Sát Hợp Đài, được phong đất ở Hãn quốc Sát Hợp Đài. Người con thứ ba là Oa Khoát Đài, có Hãn quốc Oa Khoát Đài. Người con thứ tư là Đà Lôi, trấn giữ Mông Cổ bản bộ (đây là vùng đất cũ của người Mông Cổ).

Sau khi Quý Do Khả hãn băng hà, hậu duệ của bốn người con trai ấy đã chia thành hai phe. Trong đó, hậu duệ của Truật Xích và Đà Lôi đứng cùng một phe. Dĩ nhiên, vào lúc ấy bản thân Truật Xích và Đà Lôi đều đã qua đời, nhưng dòng dõi của họ vẫn kết thành một phe. Còn hậu duệ của Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài thì trở thành phe đối lập.

Khi ấy, con trưởng của Truật Xích là Bạt Đô có đất phong rộng lớn nhất, thế lực hùng mạnh nhất. Sau khi Quý Do Khả hãn băng hà, Bạt Đô đã ủng hộ Mông Kha làm người kế vị, Mông Kha là con trai của Đà Lôi. Từ đó, quyền kế thừa hãn vị đã chuyển khỏi gia tộc Oa Khoát Đài, rơi vào tay gia tộc Mông Kha.

Lúc triệu tập hội nghị Khố Lý Nhĩ Thái để xác nhận Mông Kha làm người kế vị, thì hậu duệ của Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài đều không đến tham dự. Vì vậy, tính hợp pháp trong việc kế thừa của Đại hãn Mông Kha – ngay từ đầu đã trở thành một vấn đề. Ông không phải là Đại hãn được tất cả các nhánh hoàng tộc cùng tiến cử, mà là người dựa vào thực lực quân sự của hệ Truật Xích và hệ Đà Lôi để chống đỡ địa vị của mình.

Đến khi Đại hãn Mông Kha băng hà dưới thành Điếu Ngư, em trai ông là Hốt Tất Liệt đã tự mình tuyên bố kế thừa hãn vị. Nói cách khác, không có ai tiến cử, cũng không hề triệu tập hội nghị Khố Lý Nhĩ Thái, Hốt Tất Liệt tự phong mình làm Đại hãn. Cùng lúc đó, em trai của Hốt Tất Liệt là A Lý Bất Ca cũng tuyên bố kế thừa Hãn vị tại thượng đô Hòa Lâm. Như vậy, sau khi Mông Kha qua đời, trong hoàng tộc Mông Cổ đã xuất hiện đồng thời hai vị Đại Khả hãn.

Giữa Hốt Tất Liệt và A Lý Bất Ca đã trải qua mấy lần giao chiến. Cuối cùng, A Lý Bất Ca chiến bại rồi đầu hàng; thêm vài năm sau thì qua đời. Đến lúc ấy, ngôi vị Đại Khả hãn của Hốt Tất Liệt mới thật sự ổn định. Nhưng xét cho cùng, Hốt Tất Liệt vẫn không phải là người được toàn thể hoàng tộc đề cử. Chính điều này đã gieo xuống một hạt giống sâu xa cho sự phân liệt về sau của Đế quốc Mông Cổ.

Năm xưa, khi Đại hãn Mông Kha đăng cơ, có nghĩa là quyền lực tối cao của đế quốc đã chuyển từ gia tộc Oa Khoát Đài sang gia tộc Đà Lôi. Thế nhưng, gia tộc Oa Khoát Đài cho rằng họ vốn có tư cách kế thừa hãn vị.

Quý Do Khả hãn thực ra không phải là con trưởng của Oa Khoát Đài. Ông còn có một người anh là Hợp Thất. Hợp Thất sinh được một người con trai tên là Hải Đô. Hải Đô dũng mãnh thiện chiến, lại thuộc hệ Oa Khoát Đài, xét về danh phận thì vốn cũng có tư cách kế thừa hãn vị. Bởi vậy, sau khi Đại hãn Mông Kha lên ngôi, ông vẫn luôn lo sợ Hải Đô sẽ nổi loạn, nên đã phong Hải Đô đến một vùng đất ở phía nam hồ Balkhash, đồng thời cố ý đề phòng và kiềm chế ông ta.

Thế nhưng Hải Đô quả thực là một thiên tài quân sự, tác chiến lại vô cùng dũng cảm. Hơn nữa, đất phong của ông nằm nơi xa xôi, nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của triều đình trung ương, nên trong lòng ông vẫn không phục. Đợi đến khi Hốt Tất Liệt kế thừa hãn vị, sự bất phục ấy lại càng tăng thêm. Chính vì vậy, giữa các đại hãn quốc về sau đã bùng phát chiến tranh. Bên đầu tiên khơi mào chiến tranh chính là Hãn quốc Sát Hợp Đài.

Ở đây chúng tôi cần nói rõ một điểm: vào thời Mông Cổ bấy giờ, Khả hãn của các Hãn quốc không phải do nội bộ Hãn quốc tự bầu ra, cũng không phải cứ theo một trật tự kế thừa cố định nào đó mà lên ngôi. Khả hãn của mỗi hãn quốc, nếu muốn kế vị một cách hợp pháp, đều phải được Đại Khả hãn của Đại Mông Cổ Đế quốc sắc phong. Nói cách khác, nếu một vị Khả hãn kế vị trong một hãn quốc mà không được Đại Khả hãn thừa nhận, thì tất yếu sẽ dẫn đến chính biến trong cung đình, thậm chí là bùng nổ nội chiến. Hãn quốc Sát Hợp Đài chính là một trường hợp như thế.

Ban đầu, Hãn quốc Sát Hợp Đài tự mình suy tôn ra một vị Khả hãn, tên là Mộc Bát Lạt Hắc Sa. Thế nhưng Hốt Tất Liệt lại bổ nhiệm một người khác làm khả hãn, người này tên là Bát Lạt. Sở dĩ Hốt Tất Liệt bổ nhiệm Bát Lạt làm khả hãn, là vì ông muốn lợi dụng Hãn quốc Sát Hợp Đài để tấn công Hãn quốc Oa Khoát Đài của Hải Đô.

Bát Lạt vừa đến nơi, liền lập tức trục xuất Mộc Bát Lạt Hắc Sa. Sau đó, ông phát binh tiến đánh Hãn quốc Oa Khoát Đài. 

Hãn quốc Oa Khoát Đài bèn liên lạc với Hãn quốc Khâm Sát, cùng hợp lực đối đầu với Hãn quốc Sát Hợp Đài. Như vậy, Hãn quốc Sát Hợp Đài chẳng khác nào phải lấy một địch hai, và kết quả là thất bại.

Sau đó, Bát Lạt phải cầu hòa với Hải Đô, đồng thời nghe theo sự chỉ huy của Hải Đô. Từ đây, ba hãn quốc ấy liền liên hợp lại với nhau. Họ đều hiểu rằng, ngọn nguồn khiến chiến tranh bùng phát ban đầu chính là việc Hốt Tất Liệt sai Bát Lạt đi tấn công Hãn quốc Oa Khoát Đài. Vì vậy, cả ba hãn quốc đều dần hình thành thế đối lập với bản bộ Đại Nguyên.

Chiến tranh giữa chính quyền trung ương và các hãn quốc địa phương không chỉ dừng lại ở một lần ấy. Ngay bên trong chính quyền trung ương cũng liên tiếp xuất hiện những cuộc phản loạn. Chẳng hạn, con trai của Mông Kha là Tích Lý Cát cho rằng bản thân mình cũng có tư cách kế thừa hãn vị. Vì vậy, dưới sự kích động của Dược Bất Hốt Nhi, con trai của A Lý Bất Ca, Tích Lý Cát đã phát động một cuộc phản loạn kéo dài suốt 5 năm.

Ngoài ra, năm xưa Thành Cát Tư Hãn còn có một người em trai tên là Thiếp Mộc Cách Oát Xích Cân. Đến đời cháu bốn đời của người này là Nãi Nhan, ông ta cũng từng phát động tạo phản ở vùng Liêu Đông. Bởi vậy, có thể thấy trong nội bộ Mông Cổ khi ấy, những cuộc tranh đoạt đế vị và hãn vị đã rối ren đến cực điểm.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Đại Minh vương triều.

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>