Trong cuộc dẹp loạn Thất quốc, Chu Á Phu lập công lớn nên được phong làm Tể tướng. Nhưng vì ông vụng về trong giao tiếp, đã đắc tội với Lương Vương, Đậu Thái hậu và cả Hoàng đế, cuối cùng khi tranh luận về việc phế lập Thái tử, ông mâu thuẫn gay gắt với Hán Cảnh Đế, dẫn đến việc quan hệ rạn nứt. Hán Cảnh Đế bãi chức của ông.
Bốn năm sau, tức năm 143 TCN, Hán Cảnh Đế mời Chu Á Phu đến dùng bữa. Khi ấy, người xưa thường ngồi quỳ dưới đất, trước mặt đặt một cái án nhỏ. Hán Cảnh Đế ra lệnh dọn lên án một khối thịt lớn, nhưng lại không đưa kèm dao, đũa. Chu Á Phu thấy khó chịu, liền quay sang bảo viên quan phụ trách bếp núc hãy mang dụng cụ ăn uống đến. Cảnh Đế nhìn ông cười, rồi nói: “Trong lòng khanh phải chăng có điều bất mãn?”
Chu Á Phu lập tức đứng dậy, xin tạ lỗi với Hoàng đế. Hán Cảnh Đế nói: “Ngồi xuống đi.”
Nhưng sau đó, Chu Á Phu lại xoay người bỏ đi ngay. Lúc đó, Cảnh Đế nhìn theo bóng lưng ông rồi thốt lên: “Kẻ mang nỗi oán hận trong lòng thế kia, tuyệt không thể là bề tôi phụ tá cho ấu chúa sau này.”
Hán Cảnh Đế sắp đặt màn kịch này là có ý gì? Người Trung Hoa xưa thường làm việc rất hàm súc, không nói thẳng, mà hay dùng ẩn ý. Ở đây, có thể đoán rằng Cảnh Đế và Chu Á Phu đã trao đổi một thông điệp ngầm. Cảnh Đế mời ăn thịt, mà thịt xưa vốn là thức ăn dành cho quan lại, không phải thứ dân thường có được. Trong thiên “Tào Quệ luận chiến” có câu: “Kẻ ăn thịt thì nông cạn, không mưu được việc xa”, ý nói quan lại thường chỉ nhìn gần, không biết việc xa.
Hán Cảnh Đế cho Chu Á Phu ăn thịt là ngụ ý rằng: “Ta có thể ban cho khanh vinh hoa phú quý. Nhưng khanh có hưởng được hay không còn phải xem ta có cho khanh ‘dao đũa’ hay không.” Tức là muốn hưởng vinh hoa phú quý, khanh phải cầu xin nơi trẫm.
Thế nhưng, Chu Á Phu lại tức giận, quay sang bảo quan phụ trách mang dao đũa tới, nghĩa là ông muốn tự mình lấy, không cần đến Hoàng đế. Trong mắt Hoàng đế, đây là thái độ bất kính. Vì vậy, Hán Cảnh Đế mới hỏi: “Khanh có bất mãn gì chăng?”
Lúc này Chu Á Phu mới hiểu ra, vội vàng tạ tội. Nhưng khi Hoàng đế bảo “Ngồi xuống đi”, ông lại chẳng chịu làm hòa, cũng không xin Hoàng đế ban cho dụng cụ, mà giận dữ bỏ đi. Chính vì vậy Hán Cảnh Đế mới nói: “Sau này, khi con trai nhỏ của ta lên ngôi, e rằng khanh không thể nào phụ tá cho nó được.”
Khi nghe câu nói ấy, chúng ta phải nhận ra rằng tình cảnh của Chu Á Phu lúc này đã vô cùng nguy hiểm. Sau đó, ông trở về nhà. Con trai của Chu Á Phu chuẩn bị sẵn một số đồ dùng để tuẫn táng, trong đó có cả những tấm khiên, vũ khí cũ hỏng. Người vận chuyển vũ khí phải làm việc rất vất vả, nhưng con trai Chu Á Phu lại không trả công. Họ tức giận, biết rằng triều đình cấm tư nhân mua vũ khí, nên việc này thành ra phạm tội mua bán vũ khí trái phép. Thế là những người này đi tố cáo.
Hán Cảnh Đế biết chuyện, lập tức phái người đến hỏi Chu Á Phu. Nhưng ông từ chối trả lời, khiến Hán Cảnh Đế càng nổi giận. Cảnh Đế nói: “Ta không cần ngươi trả lời, hãy đến gặp Đình úy đi.”
Rồi Hoàng đế giao việc này lại cho Đình úy, tức là chức quan giống như bộ trưởng tư pháp. Đến đây, chuyện đã không còn là sự bất hòa cá nhân giữa Hoàng đế và Chu Á Phu, mà đã biến thành xử lý công khai theo pháp luật.
Khi bị thẩm vấn, Chu Á Phu nói: “Ta mua những thứ này để làm đồ tuẫn táng, sao có thể tạo phản được?” Đình úy thở dài, rồi nói một câu nổi tiếng: “Quân hầu túng bất phản địa thượng, dục phản địa hạ.”
Có nghĩa là: “Ngài cho dù không mưu phản trên dương gian, cũng là muốn tạo phản ở dưới âm phủ.”
Chu Á Phu tức giận, ông tuyệt thực phản đối, 5 ngày sau thì thổ huyết mà qua đời. Cái chết của ông quả thực có phần oan uổng, nhưng cũng giống như một thứ định mệnh không thể tránh.
Trong Sử ký – Giáng hầu Chu Bột thế gia, vốn ghi chép về cha của ông là Chu Bột – người từng dẹp loạn họ Lữ, cũng có kể đến chuyện này. Trong đó nói rằng khi còn trẻ, Chu Á Phu làm Thái thú quận Hà Nội. Có một thầy xem tướng số rất nổi tiếng tên là Hứa Phụ, bà là người từng tiên đoán Bạc Cơ sau này sẽ sinh ra thiên tử, bà cũng đã xem tướng cho Chu Á Phu. Hứa Phụ nói: “Ta thấy ngươi sau này sẽ được phong hầu.”
Chu Á Phu nghe vậy chỉ cười nhẹ rồi nói: “Ta là con trai thứ hai của Giáng hầu Chu Bột, tước hầu chỉ truyền cho trưởng tử, anh cả ta là Chu Thắng Chi. Huống hồ anh ta còn cưới công chúa, phần hầu tước nào có đến tay ta.”
Hứa Phụ đáp: “Không, ngươi sẽ phong hầu. Sau đó mấy năm sẽ làm Tể tướng, rồi 9 năm sau sẽ chết đói.”
Chu Á Phu nghe vậy, lại bật cười to hơn, ông nói: “Đã phong hầu, làm Tể tướng, phú quý vô cùng, sao lại chết đói được?”
Hứa Phụ nói: “Ngươi có ‘tung lý văn’ ăn vào miệng – tức là từ mũi xuống mép có một vết dọc. Ai có tướng này, tất sẽ chết đói.”
Thế nhưng, Chu Á Phu nhất quyết không tin.
Kết quả sau này quả đúng như vậy. Người anh Chu Thắng Chi giết người, lại quan hệ bất hòa với công chúa, nên bị cắt mất tước hầu. Hán Văn Đế bèn chọn một người con trai khác của Chu Bột có tiếng tốt để nối ngôi tước hầu, và Chu Á Phu được chọn. Sau khi được phong hầu, ông lại dẹp loạn bảy nước Ngô Sở, công thành danh toại rồi được phong làm Tể tướng. Nhưng quả đúng như lời Hứa Phụ, chín năm sau đó, ông chết đói trong ngục.
Chuyện này làm ta cảm khái, phải chăng con người luôn bị chi phối bởi số mệnh! Đó cũng là lý do mà người xưa có câu: Thân bất do kỷ.
Chu Á Phu đắc tội lớn nhất với Hán Cảnh Đế là chuyện phản đối việc phế lập Thái tử. Vì vậy, lý do chính khiến Cảnh Đế xử lý ông là lo rằng sau này ông sẽ chống đối vị tiểu hoàng đế trẻ tuổi. Mà trước khi tiểu hoàng đế ấy lên ngôi, trong cung còn xảy ra một cơn sóng gió lớn. Chúng tôi sẽ kể tiếp trong tập sau.
