Văn Thiên Tường quê ở huyện Lư Lăng tỉnh Cát Châu (nay là huyện Cát An tỉnh Giang Tây). Thuở nhỏ ông đã tự thề với bản thân rằng sau này sẽ trở thành một người như Âu Dương Tu. Văn Thiên Tường là người có ngoại hình ưa nhìn, theo cách nói ngày nay thì chính là “điển trai”. Ông là người đẹp trai, lại xuất thân trong gia đình giàu có, quả thật là một đối tượng trong mơ của các cô gái.
Không những vậy, ông còn là một học giả, lại tinh thông võ nghệ, thân thể cường tráng, ông có thể chơi cờ mù và đặc biệt giỏi bơi lội. Chơi cờ mù tức là chơi cờ bằng tâm trí, không có sử dụng bàn cờ và quân cờ. Phải là người có trí nhớ và sức tưởng tượng siêu phàm mới có thể làm được.
Khi trưởng thành, Văn Thiên Tường đã làm một việc độc đáo khiến nhà Tống chấn động, đó là chơi cờ trên sông Cám với hào kiệt Nam Tống Chu Tử Thiện. Kỹ năng chơi cờ cao siêu và kỹ năng bơi lội siêu phàm của ông quả thật là uy chấn thiên hạ.
Văn Thiên Tường còn là một “học bá”, là người học rất giỏi, tài hoa rực rỡ, năm 20 tuổi đã đỗ trạng nguyên. Kỳ thi năm đó là một câu chuyện truyền kỳ trong lịch sử khoa cử của nhà Lưỡng Tống, quan chủ khảo là Vương Ứng Lân đã không bận tâm đến những lời thị phi, ông đã ở ngay tại trường thi mà vỗ tay khen rằng: “Qua bao nhiêu năm, nhà Tống cuối cùng cũng có được một nhân tài có thể trị quốc rồi!”
…
Sau cuộc hành quân ồ ạt của nhà Nguyên về phương Nam, phòng tuyến sông Trường Giang mà nhà Nam Tống dày công xây dựng đã sụp đổ, quan địa phương các nơi, người thì tử trận, người thì đầu hàng hoặc bỏ trốn. Văn Thiên Tường thấy rằng: cứu nước cũng giống như cứu phụ mẫu, nếu phụ mẫu bị bệnh thì dù là bệnh khó trị, con cái vẫn phải dốc hết sức cứu chữa! Lần đó, sau khi ông ngẩng mặt lên trời khóc một trận thảm thiết, Văn Thiên Tường đã bán hết gia sản để chiêu mộ nghĩa quân hơn vạn người, họ cùng tiến lên phía Bắc để cứu nước!
Đấy là một trận chiến sinh tử, nhưng Văn Thiên Tường nói: “Ta biết ta sẽ chết nếu làm thế này, nhưng ta chỉ hy vọng tự mình làm gương cho nhiều người hơn nữa nỗ lực cứu nước!” Ông dẫn theo đội quân không chút kinh nghiệm chiến đấu của mình tiến về phía bắc trong sự căm phẫn, họ đổ máu chiến đấu trên chiến trường đến phút cuối cùng, nhưng rốt cục họ vẫn không thể chống lại kỵ binh của nhà Nguyên! Vào phút nguy cấp, có người đã cứu ông thoát chết.
Sau khi quân Nguyên tiến vào Lâm An, Văn Thiên Tường nhận lệnh đi đàm phán hòa bình với quân Nguyên. Trong lúc đàm phán, Văn Thiên Tường không hề tỏ ra e sợ trước vũ lực của quân địch, ông còn mắng chửi Bá Nhan và bày tỏ quyết tâm chiến đấu đến cùng, nên đã bị bắt giữ.
Sau khi quân Nguyên chiếm Lâm An, Văn Thiên Tường bị áp giải về phương Bắc. Ông mạo hiểm trốn thoát nhưng lại bị gán cho tội danh “Hán gian”. Quân Nguyên dùng kế phản gián, phao tin Văn Thiên Tường đầu hàng nhà Nguyên, rằng ông trở về phương Nam để giành thành chiếm đất, và bị chiến hữu Lý Đình Chi truy sát!
Sau bao phen lang thang trôi dạt, nếm trải đủ loại gian khổ, ông đến Phúc Châu và được tiểu hoàng đế Tống Đoan Tông Triệu Thị phong làm hữu thừa tướng. Trên đường đi, Văn Thiên Tường đã viết rất nhiều bài thơ chấn động tâm can, ông biên soạn chúng thành một tập thơ, đặt tên là “Chỉ Nam Lục”. Có đôi câu thơ rằng:
“Thần tâm nhất phiến từ châm thạch, bất chỉ nam phương thệ bất hưu”
Có nghĩa là: tấm lòng của thần như kim la bàn, nếu không chỉ về phương Nam, thề sẽ không dừng lại.
Với câu thơ này, ông đã biểu đạt tấm lòng trung trinh của mình với vương triều nhà Tống.
Năm 1277, Văn Thiên Tường đánh bại quân Nguyên ở miền nam Giang Tây và thu hồi thành công hơn chục châu huyện. Tuy nhiên, vào mùa đông năm 1278, đại binh quân Nguyên lại tấn công, nghĩa quân cứu Tống người ít, không thể kháng lại địch và bị đánh bại tại Ngũ Pha Lĩnh, Văn Thiên Tường nuốt độc dược mang theo bên mình để liều thân, nhưng lại bị hôn mê chứ không mất mạng.
Trong lúc hôn mê, ông đã bị bắt. Sau khi Văn Thiên Tường bị bắt, Trương Hoằng Phạm đã ba lần liên tục ép Văn Thiên Tường viết thư chiêu hàng Trương Thế Kiệt. Văn Thiên Tường đáp: “Ta là người không có năng lực bảo vệ phụ mẫu của mình, lẽ nào còn có thể đi dạy người khác phản bội lại phụ mẫu?” Rồi ông cho Trương Hoằng Phạm xem bài thơ “Quá Đinh Linh dương” mà ông viết. Trương Hoằng Phạm xem xong thì cảm động, không còn bức bách Văn Thiên Tường nữa. Vì trong bài thơ có câu: Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”. Có nghĩa là: Người đời tự cổ ai không chết, Lưu giữ lòng son sáng sử xanh.
Ngày 06 tháng 02 năm 1279, tại vùng biển Nhai Sơn, Giang Môn, Quảng Đông tàn quân Nam Tống và quân Nguyên phát động cuộc tiến công cuối cùng, trận hải chiến ấy rất khốc liệt. Kết quả quân Tống đại bại. Đại thần Lục Tú Phu vận triều phục trang trọng, rồi cõng tiểu Hoàng Đế Triệu Bính gieo mình xuống biển.
Vì để ngăn tàu chiến rơi vào tay kẻ địch, quân Tống đã tự đục thủng hàng trăm tàu chiến của mình. Mấy chục vạn quân dân Nam Tống này, không một ai muốn đầu hàng cả. Họ thà chết cũng không khuất phục chính quyền Mông Cổ. Trong đó gồm cả thái hậu, thừa tướng, quan viên, binh sĩ, phụ nữ, bách tính… họ đã lũ lượt trầm mình xuống biển, oanh oanh liệt liệt vì nước tuẫn tiết!
Văn Thiên Tường khi đó đang bị bắt giữ trên chiến thuyền của quân Nguyên, ông đã tận mắt chứng kiến trận Sơn Nhai, tận mắt nhìn thấy sự diệt vong của quốc gia mình! Đây là một trang bi tráng nhất của lịch sử Trung Hoa, vương triều Đại Tống huy hoàng xán lạn đến đây là kết thúc.
Trương Hoằng Phạm lại khuyên Văn Thiên Tường rằng: “Hiện nay, triều Tống đã mất, lòng trung hiếu của ông cũng tận rồi. Nếu ông đem cái tâm làm việc cho nhà Tống để đi làm việc cho nhà Nguyên thì nhất định sẽ làm đến chức thừa tướng đó”. Văn Thiên Tường khóc lóc thảm thiết đáp: “Nước mất không thể cứu được, ta thân là quan đại thần, tội quả đáng chết, lẽ nào còn tham sống sợ chết mà thay đổi tâm ý?” Trương Hoằng Phạm chỉ còn cách giải Văn Thiên Tường về kinh đô của nhà Nguyên.
Nguyên Thế Tổ dùng lễ trang trọng để đối đãi, hy vọng chiêu hàng được Văn Thiên Tường.
Khi đó, Lưu Mộng Viêm từng là thừa tướng của nhà Tống, nhưng đã đầu hàng nhà Nguyên. Thế là Nguyên Thế Tổ phái Lưu Mộng Viêm đến để dụ hàng Văn Thiên Tường.
Vừa trông thấy Lưu Mộng Viêm, Văn Thiên Tường lòng bốc lửa giận, nên mắng rủa ông ta thậm tệ, Lưu Mộng Viêm chỉ đành tức giận ra về. Nguyên Thế Tổ lại phái Tống Cung Đế đến chiêu hàng. Văn Thiên Tường vừa nhìn thấy Tống Cung Đế liền quỳ xuống đất, khóc lóc đau đớn nói: “Xin thánh giá hồi cung”. Tống Cung Đế không thể mở lời được, cũng đành ra về.
Quan tể tướng triều Nguyên là A Hợp Mã cũng từng triệu kiến Văn Thiên Tường. Thấy Văn Thiên Tường chỉ vái dài rồi ngồi xuống, A Hợp Mã quát hỏi: “Thấy tể tướng sao lại không quỳ?” Văn Thiên Tường đáp: “Tể tướng Nam triều gặp tể tướng Bắc triều sao lại phải quỳ?” A Hợp Mã sau đó lặng lẽ rời đi. Nguyên Thế Tổ khi biết được chuyện này đã rất tức giận, liền hạ lệnh trói Văn Thiên Tường lại, đóng gông và tống vào đại lao.
Sau đó, thừa tướng Bột La của nhà Nguyên đã đích thân thẩm vấn Văn Thiên Tường. Văn Thiên Tường bị giải đến đại sảnh của khu mật viện, ông vẫn hiên ngang đứng thẳng và chỉ chắp tay hành lễ chào thừa tướng. Bột La quát tả hữu hai, bên bắt Văn Thiên Tường phải quỳ. Văn Thiên Tường không ngừng phản kháng, cuối cùng vẫn không chịu khuất phục. Bột La hỏi: “Nước đã mất, ngươi vẫn không chịu đầu hàng, ngươi còn gì để nói không?” Văn Thiên Tường cười đáp: “Việc trong thiên hạ có hưng ắt có suy. Nước mất, thần tử cũng phải liều mạng một phen. Ta vì nhà Tống mà tận trung, chỉ mong sớm được chết thôi!”
Bột La nổi trận lôi đình, quát lớn: “Ngươi muốn chết sao? Ta thì lại không để ngươi chết, ta sẽ tống ngươi vào ngục đến khi nào ngươi khuất phục mới thôi!”
Văn Thiên Tường không chút sợ hãi đáp: “Ta muốn vì chính nghĩa mà chết, có giam cầm ta ta cũng không sợ!” Từ đó Văn Thiên Tường đã phải trải qua ba năm dài thăm thẳm trong hoàn cảnh ác liệt ở nhà giam.
Ở trong ngục, ông đã viết nên bài thơ “Chính khí ca” với khí phách hào hùng lưu truyền thiên cổ, bài thơ như sau:
Trời đất có chính khí
Toả ra cho muôn loài
Là sông núi dưới đất
Là trăng sao trên trời
Đầy rẫy cả vũ trụ
Khí hạo nhiên của người
Gặp cảnh đời bình trị
Triều thịnh vang lời vui
Khi cùng, tiết tháo rõ
Sử xanh ghi đời đời.
Ở Tề, sách Thái Sử
Ở Tấn, bút Đổng Hồ
Ở Tần, chuỳ Bác Lãng
Ở Hán, cờ họ Tô
Đầu Nghiêm thách trước giặc
Máu Kê trên áo vua
Răng Trương công chửi địch
Lưỡi Kiều Khanh mắng thù.
Hoặc là mũ Liêu Đông
Vẻ băng tuyết phau phau
Hoặc là biểu “Ra quân”
Lẫm liệt quỷ thần sầu
Hoặc qua sông gõ nhịp
Khảng khái nuốt quân Hồ
Hoặc giật hốt đánh giặc
Phường tiếm nghịch toang đầu.
Khi ấy tràn ngập tới
Oai nghiêm muôn thuở còn
Khi đã vượt nhật nguyệt
Sống thác chuyện con con!
Khuôn đất nhờ đó vững
Cột trời nhờ đó còn
Ba giường được gìn giữ
Đạo nghĩa có gốc nguồn.
Xót ta gặp vận ách
Tướng sĩ thực hèn nhát
Dải mũ buộc thân tù
Xe chở lên cực bắc
Ninh nấu cũng cam lòng
Còn để ta mong mãi
Phòng sâu ma lập loè
Viện xuân thành ngục tối!
Ngựa giỏi nhốt cùng trâu
Chuồng gà, phượng nhặt thóc
Thân này khi gió sương
Đành rãnh ngòi lăn lóc
Thế mà hai năm qua
Tránh xa bao khí độc
Thương ôi! Chỗ lội lầm!
Lại sống yên tối sớm
Phải đâu khôn khéo gì
Âm dương không dám phạm
Vằng vặc tấm cô trung
Ngẩng nhìn mây trắng nổi
Buồn thay! Nỗi lòng ta
Trời xanh cao vòi vọi!
Thánh hiền khuất lâu rồi
Khuôn phép vẫn không mất
Hiên gió mở sách coi
Gương xưa soi trước mặt.
Trong bài thơ, Văn Thiên Tường đã liệt kê 12 vị anh hùng trung liệt của các triều đại, mượn tấm lòng son và những hành động hiệp nghĩa chói lóa cả nhật nguyệt của họ để tự động viên mình.
Mùa xuân năm 1280, Văn Thiên Tường nhận được thư từ con gái Liễu Nương, biết rằng vợ là Âu Dương phu nhân và hai con gái đang làm nô lệ trong cung điện Đại Đô, họ phải sống như những tù nhân. Ông viết thư nhờ em gái dặn dò phu nhân ông hãy “quy về thiên mệnh, không oán không hận”, căn dặn con gái “gắng làm người cho tốt”. Thân mang trách nhiệm và sứ mệnh của một thừa tướng nhà Tống, ông phải hiến dâng cuộc đời mình cho đất nước, ông mong rằng nữ nhi ngốc sẽ không tưởng nhớ đến mình nữa, duyên phận đời này đã tận, hẹn đời sau sẽ tiếp tục mối thân duyên.
Cuối cùng, Nguyên Thế Tổ đã phải đích thân thuyết phục Văn Thiên Tường đầu hàng, chỉ cần Văn Thiên Tường đầu hàng nhà Nguyên, thì sẽ ban cho ông quyền cao chức trọng. Khi Văn Thiên Tường gặp Nguyên Thế Tổ, ông vẫn chỉ vái dài mà không quỳ, rồi ông cười đáp rằng: “Ta chịu ân huệ sâu nặng của nhà Tống, thân là thừa tướng, làm sao có thể thờ hai họ? Đất nước diệt vong, ta chỉ cầu được chết, chẳng muốn sống lâu”.
Nguyên Thế Tổ lại hỏi ông: “Vậy ngươi có nguyện vọng gì?” Văn Thiên Tường cười đáp: “Xin hãy ban cho ta cái chết là đủ rồi!” Nguyên Thế Tổ bèn hạ lệnh xử tử Văn Thiên Tường, thành toàn cho một tấm lòng trung.
Ngày 09 tháng 01 năm 1283, Văn Thiên Tường bị áp giải đến pháp trường. Quan giám trảm hỏi ông: “Thừa tướng còn gì để nói không? Quay lại cầu xin thì có thể miễn chết đó”. Văn Thiên Tường chỉ đáp: “Chết thì chết, có gì đáng nói?” Rồi ông hỏi giám quan: “Phương Nam ở hướng nào?” Có người chỉ phương hướng cho ông, Văn Thiên Tường chỉnh lại áo mũ, trang trọng quỳ hướng về phía Nam và nói: “Việc của ta đã xong rồi”, sau đó ung dung tử vì nghĩa. Sử sách ghi lại rằng: “Văn Thiên Tường rất ung dung khi sắp chịu hình”. Ông qua đời khi mới 47 tuổi.
Mấy ngày sau, vợ của Văn Thiên Tường là Âu Dương thị đến thu nhặt di thể của chồng, bà phát hiện nét mặt ông không thay đổi và vẫn tươi tỉnh như hồi còn sống. Trong thắt lưng của ông có giấu một bài thơ tuyệt mệnh, thơ viết rằng:
Khổng nói thành nhân,
Mạnh nói giữ nghĩa.
Chỉ khi nghĩa trọn,
Mới là nhân tới.
Đọc sách Thánh hiền,
Là học điều ấy.
So sau so trước,
Ngõ hầu không thẹn.
Văn Thiên Tường xả mệnh vì nghĩa, lưu lại tinh thần “trung thành”, “chính khí hạo nhiên” cho thế gian, nêu lên tấm gương về lòng “trung” của một “quan văn” cho hậu nhân, triển hiện một cách sâu sắc và sống động về khí tiết của sĩ tử thời cổ đại. Những giá trị quan mà ông để lại đã làm chấn động và cảm động con cháu nghìn vạn đời sau, hòa vào huyết mạch của dân tộc, trở thành một loại sức sống, một loại tinh thần của dân tộc.
Văn Thiên Tường sống không phụ bạc, chết không hổ thẹn, trải qua trăm ngàn trắc trở cũng không hối tiếc, chính như câu nói: Đạo chi sở tại, tuy thiên vạn nhân, ngô vãng hĩ (Tức là: có Đạo ở đây thì dẫu có ngàn vạn người ngăn trở, ta vẫn tiến về phía trước). Ông thực sự đã thực thi các giá trị quan của Nho gia như “nhân”, “nghĩa”, “thiên mệnh”.
Trong Luận Ngữ, Khổng Tử viết: “Chí sĩ nhân nhân, vô cầu sinh dĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân”. Có nghĩa là: người chí sĩ có lòng nhân, không vì câu toàn tính mệnh mà làm tổn hại điều nhân đức, thậm chí còn hy sinh tính mệnh để thành tựu điều nhân đức. Sinh mệnh đối với mỗi người đều rất quý giá, tuy nhiên, điều quý giá hơn cả mạng sống chính là lòng nhân đức và niềm tin vào chân lý của vũ trụ. Cụm từ “xả thân thành nhân” là để chỉ những người khi đối diện với sinh tử thì có thể từ bỏ mạng sống của mình để giữ gìn lòng nhân đức.
Vậy nên, việc gì nếu xét từ góc độ đạo đức là đúng thì cứ làm, hơn nữa nhất định phải dốc toàn lực mà làm, còn về kết quả thì Thiên thượng đã tự có an bài, đó chính là “thiên mệnh”.
Sau khi bị bắt, Văn Thiên Tường đã uống thuốc độc mang theo để tự sát nhưng lại không chết; khi vào địa giới Giang Tây, ông tuyệt thực trong tám ngày, định hy sinh vì đất nước và mong sẽ được chôn nắm xương tàn ở quê nhà, nhưng vẫn không chết được. Khi biểu hiện lòng trung nghĩa của Văn Thiên Tường thì Thần cũng đang bảo cho con người biết rằng: Thần là đang nắm giữ mọi thứ, chưa hoàn thành an bài của Thần thì làm sao có thể chết được!
Khi sắp hy sinh vì đại nghĩa, Văn Thiên Tường nói: “Việc của ta đã xong rồi”, vậy thì ông đã hoàn thành xong việc gì? Chính là đã hoàn thành xong sứ mệnh rồi. Nhưng tại sao ông lại nói như vậy?
Văn Thiên Tường hết lòng tin vào Phật giáo, Đạo giáo. Khi ở trong tù, Văn Thiên Tường đã viết một bài thơ lấy thi hiệu là “Phù Hưu Đạo nhân”, mượn câu nói của Trang Tử là “kỳ sinh nhược phù, kỳ tử nhược hưu” (tức là: kiếp người trôi nổi, chết là được nghỉ ngơi) để biểu thị cho sự ngộ Đạo của mình.
Khi ở trong ngục, trong cơn hoạn nạn, ông đã gặp được dị nhân truyền thụ chính Pháp cho ông, ngộ ra được Đại Quang Minh Chính Pháp, rồi Văn Thiên Tường cứ phó mặc sinh tử tùy duyên, không màng đến nữa, đột nhiên ông cảm thấy cả thân tâm rơi thoát bụi trần, không còn vướng bận gì nữa. Trong bài thơ “Ngộ dị nhân chỉ kỳ dĩ Đại Quang Minh Chính Pháp” ông viết:
Ai biết chân hoạn nạn,
Bỗng ngộ Đại quang minh.
Trời mọc mây tĩnh lặng,
Gió tan nước tự yên.
Công danh diệt thiên tính,
Trung hiếu nhọc sinh linh.
Thiên hạ người hào kiệt,
Thần tiên lập tức thành.
Đêm giao thừa năm 1281, Văn Thiên Tường viết: “Mệnh tùy niên dục tẫn, Thân dữ thế câu vong, Vô phục Đồ Tô mộng, Thiêu đăng dạ Vị Ương” (đại ý là giờ đây cuộc đời sắp theo năm cũ kết thúc, sau này chẳng bao giờ dám mơ đến niềm vui được cùng gia đình thỏa thích uống rượu Đồ Tô nữa, thắp ngọn đèn lên, ta đã trải qua một đêm dài vô tận). Đây là đêm giao thừa cuối cùng mà Văn Thiên Tường trải qua. Vậy mà vừa đến mùa xuân năm đó, Văn Thiên Tường viết thư tuyệt mệnh, tức là ông đã đoán trước được số phận, ngộ ra sinh tử và biết được sứ mệnh của mình, do vậy trước lúc hy sinh vì nghĩa, ông nói: “Việc của ta đã xong rồi”.
Trong vở kịch lớn của lịch sử, Thần dùng phần hạ màn của một vương triều để tạo tựu nên tinh thần dân tộc. Tuy nhiên, an bài của Thần hoàn toàn không nhằm một mục đích duy nhất, đây là một sự an bài về luân hồi chặt chẽ, tỉ mỉ mà hoàn mỹ, đồng thời đó cũng là trải đường cho vở kịch lớn của lịch sử hôm nay.
Trong số các triều đại khác nhau của lịch sử, triều Tống phồn hoa, nhưng không nổi tiếng về vũ lực. Họ còn bị gọi là “nhược Tống”. Nhưng chính một vương triều “nhược Tống” như vậy mới có thể triển hiện ra tinh thần kiên cường, thà gãy chứ không cong, thà chết không khuất phục, làm cảm động lòng người.
Với mỗi từng cá nhân trong vở diễn lớn ấy mà nói thì đều là một trường tôi luyện, một trường tạo tựu, mà loại tinh thần này sẽ hòa vào linh hồn của con người, lưu lại những dấu ấn, vết tích không thể xóa nhòa theo thời gian.
Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, hẹn gặp lại bạn trong các tập tiếp theo.
Ghi chú: Bài viết tham khảo tư liệu từ: https://chanhkien.org/2024/09/cau-chuyen-co-that-ve-luan-hoi-nhung-nguoi-ho-ve-cua-mat-trieu-luc-tu-phu-va-vien-sung-hoan-phan-2.html
