Từ năm 581, khi Tùy Văn Đế Dương Kiên dựng nên nhà Tùy, cho đến năm 763 – là thời điểm loạn An Sử chấm dứt – tuy giữa chừng có trải qua cơn chấn động ngắn ngủi vào buổi thời Tùy, đầu thời Đường, nhưng xét về tổng thể, thì tình hình chính trị, kinh tế và văn hóa Trung Quốc đều nằm trên một đường thăng tiến phồn thịnh. Đây chính là thời kỳ hoàng kim của văn hóa Trung Hoa. Hôm nay, chúng tôi sẽ khái lược những đặc sắc của thời Tùy – Đường, cùng với những ảnh hưởng sâu xa mà thời đại này mang lại.
Nhìn khái quát toàn bộ lịch sử thời Tùy – Đường, chúng ta có thể dùng hai chữ “thịnh thế” để hình dung. Bản đồ lãnh thổ thời Tùy – Đường là vô cùng rộng lớn, đây là điều chưa từng có tiền lệ trong các triều đại trước đó. Lãnh thổ nhà Đường đứng thứ ba trong lịch sử Trung Hoa, chỉ sau nhà Nguyên và nhà Thanh; nhưng so với triều Nguyên và Thanh, thì đại Đường lại càng phô bày phong thái của một đế quốc cường thịnh, văn minh rạng rỡ.
Bởi lẽ ở triều Nguyên, do mức độ Hán hoá rất nông cạn, nên khó có thể đứng vững ở Trung Nguyên, cuối cùng họ vẫn phải quay về sống ở nơi thảo nguyên quen thuộc. Còn với triều Thanh, sau thời của hoàng đế Khang Hy thì triều đình lại ngày một khép kín, hạn chế giao lưu kinh tế văn hóa với các quốc gia khác, khiến khí tượng của một “đại quốc” dần suy giảm.
Thời nhà Đường không chỉ văn hóa phát triển rực rỡ, mà còn duy trì giao lưu kinh tế và văn hóa hết sức sôi động với các nước Tây Vực. Nhờ vậy, Trung Hoa thời Đường cũng trở nên quen thuộc hơn đối với nhiều vùng đất khác trên thế giới. Dân số Trường An khi ấy vào khoảng 50 vạn, gồm những người ngoại tộc đã quy hàng, lưu học sinh từ các nước, cùng với thương nhân bốn phương đều tụ tập rất đông tại đây.
Ở Lạc Dương, Dương Châu, Nam Xương, Quảng Châu, Tuyền Châu, Hà Nội và nhiều đô thị khác, thương nhân ngoại quốc xuất hiện cực kỳ đông đảo. Các tửu lâu nơi thành thị thường mời hồ cơ ra tiếp đãi khách. Hồ cơ là chỉ những cô gái có mũi cao, mắt sâu, làn da trắng, họ là người đến từ Tây vực. Lý Bạch trong bài Thiếu niên hành có câu: “Lạc hoa đạp tận du hà xứ, tiếu nhập hồ cơ tửu tứ trung”, chính là miêu tả cảnh tượng ấy.
Theo thống kê, kể từ năm Trinh Quán thứ 4 đến năm Thiên Bảo thứ 4, trong khoảng 115 năm, số người ngoại tộc quy hàng hoặc bị bắt mà còn lưu được tư liệu, nhiều lên tới 170 vạn người.
Vào cuối đời Đường, khi Hoàng Sào làm loạn, riêng tại Quảng Châu đã có tới 12 vạn người Do Thái giáo, Cảnh giáo, Hồi giáo và Hỏa giáo bị thiệt mạng trong binh biến, đủ để thấy quy mô dân số khi ấy lớn đến mức nào và chủng tộc đa dạng ra sao. Trong các gia đình người Đường, nô tỳ được nuôi trong nhà rất nhiều, mà phần lớn lại là người Tân La. Họ là những người đến từ bán đảo Triều Tiên, một bộ phận bị bắt trong chiến tranh, hoặc rơi vào cảnh lưu lạc, khiến họ trở thành nô tỳ trong các gia đình thời Đường. Nô tỳ thời Đường không giống với khái niệm nô lệ của phương Tây. Những người nô tỳ có thể coi là người giúp việc trong các gia đình, phụ trách các công việc nội trợ, hầu hạ và việc vặt.
Hàn Quốc từng sản xuất bộ phim truyền hình tên là Hải Thần, nhân vật chính là Trương Bảo Cao. Trong Tân Đường Thư cũng có ghi chép về ông. Trương Bảo Cao từng nói: “Khắp Trung Quốc đều dùng người Tân La làm nô tỳ.”
Thời Đường còn có một loại nô tỳ gọi là Côn Lôn nô, họ vốn là người da đen. Về nguồn gốc của nhóm Côn Lôn nô này, các nhà sử học có nhiều cách giải thích khác nhau. Thời Đường có một tác phẩm truyền kỳ mang tên Côn Lôn nô, xét thấy nhân vật trong truyện có thân thủ khỏe mạnh, linh hoạt, thì khả năng lớn là họ có xuất thân từ người châu Phi.
Đối với những nhóm người có chủng tộc và nền văn hóa khác biệt, thì đại Đường đều có thể dung nạp, bao dung như biển lớn đón mọi dòng chảy. Người Trung Quốc tự xưng là người Hán, đó là tộc danh được định hình từ thời nhà Hán. Còn người phương Tây thì gọi người Trung Quốc là “Đường nhân”, những khu vực người Trung Quốc định cư ở hải ngoại được gọi là “Đường nhân nhai”. Giới sử học đánh giá rằng thời Tùy – Đường là hai triều đại quan trọng nhất của Trung Quốc trong thời Trung Cổ, điều ấy là hoàn toàn hợp lý.
Hai triều Tùy và Đường cũng là những triều đại cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc đã đặt kinh đô tại Trường An. Về sau, trung tâm chính trị và văn hóa của Trung Quốc hoặc là dời sang phía đông, hoặc là chuyển xuống phương nam. Chính nhờ còn ở Trường An mà Tùy – Đường mới có thể thực hiện chiến lược kinh lược Tây Bắc, giống như thời Hán Vũ Đế, từ đó mở rộng lãnh thổ về phía tây cho đến tận Hàm Hải, về phía bắc thì đến tận khu vực bắc hồ Baikal.
Từ đó trở đi, các triều đại ở Trung Hoa đều không còn có thể mở rộng lãnh thổ đến phía Tây bắc được xa như thế, ngay cả thời nhà Nguyên cũng không đạt được mức độ ấy.
Ngoài việc sở hữu quân đội hùng mạnh, hai triều Tùy – Đường còn có nền kinh tế vô cùng phát triển. Khi chúng tôi kể về sự xa hoa cùng cực của Tùy Dạng Đế, thì điều ấy là vì đằng sau ông ta có cả một nền kinh tế đế quốc hết sức hùng hậu làm chỗ dựa.
Vào thời nhà Đường, mức thuế là rất nhẹ. Trong loạt bài Tần Hoàng Hán Vũ, chúng tôi từng kể rằng mức thuế dưới triều Hán Cảnh Đế là 1/30, tức là khoảng 3,3%. Đến đầu thời Đường, mức thuế còn nhẹ hơn nữa, chỉ còn 1/40, tức là khoảng 2.5%. Về cơ bản, trong thời Trinh Quán chi trị và Khai Nguyên thịnh thế, đời sống của người dân là rất sung túc.
Đường Thái Tông đã thiết lập một chế độ chính trị trong sáng, chú trọng vào việc chỉnh đốn quan lại, ông đã để lại Trinh Quán chi trị lưu danh thiên cổ. Chế độ tam tỉnh lục bộ do Tùy Văn Đế hoàn thiện vốn đã thể hiện tư tưởng phân quyền và chế ước, vì trưởng quan của ba tỉnh đều tương đương chức vị tể tướng.
Đến thời Đường, mô hình nhiều tể tướng ấy lại càng được tăng cường. Khi người xưa ghi chép chức quan của một người, phía sau còn có thêm dòng chữ “đồng Trung Thư Môn Hạ bình chương sự”, nghĩa là họ đang đảm nhiệm chức vụ tể tướng trên thực tế.
Số lượng tể tướng thay đổi theo mỗi thời, khi ít thì chỉ là vài người, khi nhiều thì có hơn mười người, thậm chí có lúc có hơn hai mươi vị tể tướng. Khi bàn việc nước, họ họp tại Chính Sự Đường, tức là một hội nghị với nhiều vị tể tướng cùng tham gia. Trong đó có người phụ trách soạn thảo chiếu thư, có người thẩm nghị và bác bỏ chiếu thư, lại có người phụ trách thi hành chiếu thư.
Như vậy, không chỉ giữa hoàng đế và tể tướng là có sự phân quyền, mà giữa các tể tướng với nhau cũng có phân quyền, nhờ đó mà tránh được tình trạng một cá nhân độc chiếm quyền lực.
Trong thời Tùy – Đường, chế độ khoa cử đã xuất hiện và dần được hoàn thiện. Tùy Văn Đế là người mở khoa thi để tuyển quan, đây mới thật sự là con đường dựa vào thi cử để bước vào chốn quan trường.
Những người tham gia khoa cử thời ấy chủ yếu gồm hai hạng. Một là những người học trong các trường, gọi là sinh đồ, hai là những người tự học mà thành tài, có thể tự tiến cử với các châu, huyện. Châu huyện sẽ tổ chức khảo thí, nếu thi đậu thì được vào kinh sư để dự kỳ thi của Lễ Bộ.
Đến đời Đường, khoa cử được phân thành rất nhiều môn mục, ở đây chúng tôi sẽ không nói chi tiết. Nhưng nhờ chế độ này mà ngoại trừ ngôi vị hoàng đế là cha truyền con nối, còn mọi chức quan trong bộ máy chính quyền đều được mở ra cho sĩ tử, thông qua một kỳ khảo thí tương đối công bằng. Điều ấy có nghĩa là: mỗi người đều có cơ hội làm quan, tham gia quản lý việc nước, chỉ cần họ có đủ tài năng.
Một người không cần phải có xuất thân hiển hách, không cần học ở trường danh giá, cũng chẳng cần bái sư nơi danh môn; chỉ cần họ thực sự có tài, thì đều có thể đến dự thi. Thông qua quá trình cạnh tranh công khai và công bằng ấy, người có năng lực tự nhiên sẽ nổi bật mà được tuyển dụng. Vì vậy, chế độ khoa cử chính là phương pháp tuyển quan một cách khoa học và công chính nhất mà thời đại khi ấy có thể tìm ra.
Đến thời Đường Huyền Tông, bản thân hoàng đế rất yêu thích thơ ca, ông thường đích thân khảo sát tài năng thơ phú của các cử nhân, vì vậy phần lớn những người trúng tuyển trong đời Đường đều là người viết thơ rất đẹp.
Sau kỳ thi viết, còn phải trải qua ‘thi diện’ rồi mới được chọn bổ nhiệm quan chức. Khi ấy, việc phỏng vấn được đánh giá dựa trên bốn phương diện: thân, ngôn, thư, phán.
“Thân (身)” là chỉ dáng vóc, yêu cầu dáng vẻ phải đường hoàng, tuấn tú.
“Ngôn (言)” là xem người ấy có thể nói năng lưu loát, phát âm rõ ràng hay không, có những người văn chương rất hay nhưng mở miệng là ấp úng. Vậy thì chắc chắn sẽ không thể thông qua.
“Thư (書)” là xét về chữ viết, vì người làm quan sẽ phải xử lý rất nhiều văn thư, vì vậy bắt buộc phải có chữ viết đẹp.
Phán (判) là xem khả năng lý luận và tư duy logic của thí sinh.
Chỉ khi cả bốn mặt đều đạt yêu cầu thì mới có thể được tuyển dụng làm quan.
Ảnh hưởng của chế độ khoa cử thời Tùy – Đường là vô cùng sâu rộng. Từ đó trở đi, Trung Quốc không bao giờ quay lại kiểu chính trị quý tộc hay bán quý tộc, như kiểu “thế khanh thế lộc” thời Tiên Tần, hoặc “cửu phẩm trung chính” đời Ngụy – Tấn. Đồng thời, chế độ khoa cử đã khích lệ tinh thần nhiệt tình đọc sách trong toàn xã hội. Họ đọc sách gì? Chính là sách Thánh hiền. Điều này vô cùng có lợi cho việc giáo hóa và thúc đẩy đạo đức tinh thần của quốc gia.
Ngoại trừ ngôi vị hoàng đế là cha truyền con nối, thì mọi chức vụ còn lại đều được tuyển chọn bằng phương thức tương đối công bằng, để tìm ra những nhân tài ưu tú nhất. Như vậy, không chỉ mở một con đường thăng tiến cho thường dân, mà khi tầng lớp sĩ tử chấp nhận quyền lực tuyển quan của triều đình, họ cũng đồng thời thừa nhận quyền quản lý chính trị của trung ương.
Tầng lớp sĩ đại phu là những người nắm quyền phát ngôn trong xã hội, họ chính là lực lượng quyết định phong khí của thời đại. Vì thế, tư tưởng trung quân ái quốc của họ tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến bách tính.
Đồng thời, sau khi sĩ đại phu đọc sách Nho gia, họ cũng sẽ đưa những học vấn ấy truyền bá xuống dân gian. Bởi vậy, trong xã hội Trung Quốc, ở nông thôn đã dần xuất hiện tầng lớp ‘hương thân’ – họ là những sĩ tử có học vấn trong các xóm làng. Họ vừa là người gìn giữ đạo đức, lại vừa là người truyền thừa văn hóa. Vậy nên khi chúng ta nói câu ‘hương thân phụ lão’, thì ‘hương thân’ chính là chỉ những người có học, có đạo đức tốt, có đủ uy tín để đứng ra điều đình, xử lý việc làng, họ là lực lượng truyền bá văn hóa và giữ gìn luân lý ở các thôn xã.
Trong thời Tùy – Đường, người ta đặc biệt coi trọng khả năng văn học, thậm chí trong khoa cử cũng thi làm thơ, nên điều này đã thúc đẩy thi ca phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Thơ ca của Trung Hoa xuất hiện từ rất sớm, nhưng đến thời Tam Quốc thì bùng nổ mạnh mẽ. Tào Thực sáng tác thơ ngũ ngôn, Tào Phi sáng tác thơ thất ngôn, nhưng thơ ca thời ấy chưa đặt quy phạm quá nghiêm ngặt về niêm luật.
Đến thời Nam triều, cũng xuất hiện không ít thi nhân, nhưng vì Nam triều có võ lực không bằng Bắc triều, nên về tổng thể, thơ Nam triều thiên về chương từ hoa lệ, phong khí có phần mềm mại.
Thơ thời Đường đã thoát khỏi sự hoa mỹ ấy, có bài thì điển nhã, có bài thì tinh luyện, nhưng hấp dẫn nhất là tầm vóc khoáng đạt, hào phóng, cùng cảnh giới tự nhiên, thanh đạm. Điều này gắn chặt với khí tượng rộng mở, bao dung và đại khí của đại Đường. Hình thái văn học và sáng tác nghệ thuật của một triều đại chính là phản chiếu khí độ tổng thể của triều đại ấy.
