Thời Hán Vũ Đế là một thời đại mà nhà Hán hùng cường, cũng là thời kỳ sản sinh ra rất nhiều anh hùng. Biết bao cuộc viễn chinh nơi sa mạc, lập công nơi biên ải, đã khiến hàng chục tướng lĩnh nhờ công lao mà được phong hầu. Thế nhưng, tướng quân Lý Quảng – người cả đời xem việc phong hầu là mục tiêu lớn nhất – lại chưa bao giờ được ban tước hầu. Cuối cùng, ông uất hận mà qua đời, để lại điển tích “Lý Quảng nan phong”.
Trong Sử ký, Tư Mã Thiên có hẳn một Liệt truyện riêng dành cho Lý Quảng. Lý Quảng là người Thành Kỷ, quận Long Tây (nay thuộc Thiên Thủy, Cam Túc). Ông là cháu của Lý Tín. Vào mấy chục năm trước đó, khi Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ, chuẩn bị đi diệt Sở, Lý Tín đã nói: “Cho thần 20 vạn quân là đủ.” Kết quả, trận ấy thảm bại.
Trong suốt thời Tần – Hán, ta thấy có nhiều gia tộc như thế: họ Mông, họ Vương Tiễn, họ Lý Tín… đều là những dòng họ tướng soái nối đời. Lý Quảng có thân hình rất cao lớn, đặc biệt là đôi tay dài, trong Sử ký gọi là “viên tý” (tức là tay như loài vượn). Cung nỏ mà ông giương thì người thường không kéo nổi, mà tài bắn tên lại vô cùng chính xác, có thể nói là thiên bẩm.
Về tài bắn cung của Lý Quảng, người đời sau có làm thơ ca ngợi. Lư Luân trong bài Tái hạ khúc có kể một chuyện truyền kỳ rằng:
Lâm ám thảo kinh phong,
Tướng quân dạ dẫn cung.
Bình minh tầm bạch vũ,
Mật tại thạch lăng trung.
Có nghĩa là:
Rừng âm u, cỏ lay trong gió,
Tướng quân đêm kéo cánh cung dài.
Bình minh tìm mũi tên ngà,
Đã chôn sâu chặt giữa đà vách sơn.
Bài thơ này mô tả một câu chuyện chép từ Sử ký rằng: có lần Lý Quảng thấy có bóng trong bụi rậm, tưởng là hổ, ông liền giương cung bắn. Ai ngờ đó không phải là hổ, mà là tảng đá. Nhưng Lý Quảng với thần lực phi thường, mũi tên đâm xuyên vào tảng đá.
Sáng hôm sau, Lý Quảng tìm đến, thì thấy mũi tên đã cắm sâu vào đá. Một số tráng sĩ cũng đến thử bắn tên vào đá, nhưng mũi tên của họ đều văng ra, không cắm vào được.
Thi nhân Vương Xương Linh trong bài Xuất tái cũng viết:
Tần thời minh nguyệt Hán thời quan,
Vạn lý trường chinh nhân vị hoàn.
Đãn sử Long Thành Phi tướng tại,
Bất giao Hồ mã độ Âm Sơn.
Có nghĩa là:
Trăng Tần còn sáng, quan Hán sầu,
Vạn dặm chinh nhân, biệt xứ lâu.
Giá có Phi tướng Long Thành đó,
Ngựa Hồ nào dám vượt Âm Châu.
Ở đây, “Long Thành” là chỉ nơi Vệ Thanh lần đầu xuất chinh đánh vào đất Long Thành – chỗ Hung Nô tế trời. Còn “Phi tướng quân” chính là Lý Quảng – vị tướng nổi danh với biệt hiệu ấy.
Lý Quảng lần đầu tiên được hoàng đế chú ý là vào năm thứ 14 thời Hán Văn Đế (tức năm 166 TCN). Khi ấy, Hung Nô đại quy mô xâm lấn, đánh cướp vùng đất nhà Hán. Lý Quảng với thân phận lương gia tử đệ tòng quân chống giặc. Nhờ tinh thông cưỡi ngựa bắn cung, ông chém giết được nhiều thủ cấp Hung Nô, được phong chức Hán Trung lang.
Có lần ông theo vua xuất hành, từng có việc xông pha trận mạc ngăn địch, thậm chí còn giao đấu với mãnh thú. Vì vậy, Hán Văn Đế đã khen rằng: “Đáng tiếc thay, ông sinh không gặp thời. Nếu để ông sống vào thời Hán Cao Tổ, thì phong vạn hộ hầu cũng chẳng phải chuyện gì to tát!”
Lý Quảng không chỉ dũng cảm mà tâm lý khi lâm trận cũng vô cùng vững vàng. Vào thời Hán Cảnh Đế, có một thái giám được cử làm giám quân. Một lần, gã thái giám ấy đem theo mấy chục người xuất hành, tình cờ gặp ba tên Hung Nô. Thái giám thấy quân mình đông hơn, muốn giết giặc lập công, bèn hạ lệnh xông lên. Không ngờ người Hung Nô lập tức bắn tên, chỉ trong chốc lát đã bắn gục hết mấy chục người Hán, thái giám cũng bị thương, hoảng hốt cưỡi ngựa chạy về báo với Lý Quảng.
Nghe xong, Lý Quảng nói: “Chắc chắn ba tên này là xạ điêu thủ (cao thủ bắn cung của Hung Nô). Ta phải xem thử.” Rồi ông đem một trăm kỵ binh đuổi theo ba người đó. Vì ba tên kia không có ngựa nên rất nhanh đã bị đuổi kịp. Lý Quảng giương cung bắn gục hai tên, bắt sống một tên. Nhưng đúng lúc ấy, từ xa bỗng hiện ra mấy ngàn kỵ binh Hung Nô…
Lúc ấy, phía Lý Quảng chỉ có vỏn vẹn một trăm người, lại đang ở cách doanh trại rất xa. Quân sĩ hoảng hốt nói: “Chúng ta mau chạy thôi, hoàn toàn không thể đánh nổi!”
Lý Quảng đáp:
“Không được! Bây giờ mà bỏ chạy, giữa đại mạc tầm nhìn quá rộng, bọn kỵ binh kia sẽ lập tức chia hai cánh bao vây, dùng cung tiễn bắn tới, chúng ta sẽ thành bia sống, không ai thoát nổi. Chỉ có cách nghênh địch mà thôi.”
Thế là ông hạ lệnh:
“Lập tức tiến lên!”
Lý Quảng dẫn đầu, cùng một trăm kỵ binh tiến thẳng về phía Hung Nô. Khi chỉ còn cách quân địch hai dặm, ông bất ngờ dừng ngựa, bảo binh sĩ rằng:
“Xuống ngựa, tháo yên ra hết.”
Binh lính kinh hãi, mặt cắt không còn giọt máu, họ vội đáp:
“Chúng ta còn cưỡi ngựa thì nếu Hung Nô đuổi theo, vẫn còn đường chạy. Giờ tháo cả yên, thì làm sao mà chạy được?”
Nhưng Lý Quảng vẫn kiên quyết ra lệnh. Mệnh lệnh đã ban, binh sĩ chỉ còn cách phục tùng. Một trăm người tháo yên ngựa, ngồi lặng lẽ dưới đất.
Quân Hung Nô trông thấy thì hoang mang, chẳng hiểu nổi bọn quân Hán kia đang bày trò gì – dụ địch hay giở thủ đoạn quái lạ? Một lúc sau, từ phía Hung Nô có một viên tướng cưỡi bạch mã xông thẳng tới. Lý Quảng liền nhảy lên ngựa, giương cung bắn một phát. Với thần lực của Lý Quảng, mũi tên mạnh mẽ phóng tới. Tướng Hung Nô kia lập tức ngã xuống. Thế rồi Lý Quảng lại xuống ngựa, ngồi yên như cũ. Có cảm giác bình tĩnh đến lạ kỳ.
Cả hai bên cứ thế giằng co. Đến đêm, quân Hung Nô càng thêm nghi ngờ, cho rằng chắc chắn Hán quân có phục binh, nếu không sao lại dám ngồi yên bất động như thế. Cuối cùng chúng quyết định rút lui. Lý Quảng nhờ đó thoát chết trở về.
Chính nhờ tâm lý thép ấy, Lý Quảng như đã bày ra một “không thành kế” kiểu Gia Cát Lượng.
Lại có lần khác, Lý Quảng cùng Vệ Thanh xuất chinh. Khi chia quân, Bác Vọng hầu Trương Khiên chỉ huy một cánh quân, còn Lý Quảng dẫn cánh quân kia. Không ngờ quân của Lý Quảng lại chạm trán chủ lực Hung Nô. Lúc đó, ông chỉ có 4.000 quân, trong khi Hung Nô tới 40.000 quân – đông gấp mười lần.
Binh sĩ đều khiếp sợ, nhưng Lý Quảng, vẫn thản nhiên nói cười, như không có gì. Ông còn sai con trai là Lý Cảm phi ngựa lướt ngang trước trận doanh Hung Nô, từ trái qua phải rồi quay về. Lý Cảm trở lại, báo rằng:
“Không có gì đáng sợ, ta có thể ứng phó được.”
Các tướng Hung Nô thấy quân Hán ít hơn rất nhiều, thì lập tức chỉ huy đội hình bao vây. Khi quân Hung Nô xông tới, Lý Quảng hạ lệnh cho quân sĩ lập thành vòng tròn, đồng loạt hướng ra ngoài mà bắn tên. Một trận chiến ác liệt nổ ra, phía Hung Nô muốn tiêu diệt hoàn toàn quân Hán, không cho người nào thoát, nên bao vây rất chặt.
Trong trận chiến đầu rơi máu chảy ấy, quân Hán tổn thất thảm trọng, 4.000 người chẳng mấy chốc chỉ còn một nửa, mà mũi tên cũng sắp cạn.
Lý Quảng bèn dặn:
“Không thể cứ bắn loạn xạ như thế. Khi nào địch tới gần trong tầm bắn, và có mười phần chắc chắn trúng, thì mới được bắn.”
Sau đó, Lý Quảng lấy ra cây cung của mình. Cây cung ấy gọi là Đại Hoàng, đây là loại cung làm bằng gỗ rất cứng, có thể bắn cực xa. Ông dùng những mũi trường tiễn (tên dài). Lý Quảng liền tìm xem trong quân Hung Nô ai là kẻ dẫn đầu, hễ nhìn ra được tướng lĩnh thì lập tức giương cung bắn hạ. Cứ thế, ông đã bắn gục mấy viên tướng Hung Nô, khiến thế công của chúng tạm thời chùng xuống.
Thế nhưng, đây là đại quân chủ lực của Hung Nô, họ vẫn bao vây và nhất quyết không buông.
Đến tối, binh sĩ của Lý Quảng đều nghĩ không thể nào thoát nổi nữa, nhưng Lý Quảng vẫn hết sức bình tĩnh. Về sau, Trương Khiên kéo quân tới, Hung Nô mới chịu lui.
Trong trận này, trong 4.000 quân mà Lý Quảng mang theo, đã tử trận đến 3.000 người. Tuy rằng ông đối đầu với quân địch đông gấp mười lần mà không bại, nhưng vì tổn thất sinh mạng quá nhiều, nên ông không được ban thưởng. Chính sách thời Hán là như thế: bất kể quân địch có bao nhiêu, hễ quân ta tổn thất quá nhiều thì không được phong thưởng. Vì vậy, Lý Quảng lại một lần nữa lỡ mất cơ hội phong hầu.
Còn Trương Khiên vì đến trễ ngày hẹn, theo quân luật lẽ ra phải xử chém. Nhưng trong thời chiến, Hoàng đế không muốn trảm người tài, nên đã cho phép nộp tiền để chuộc mạng. Trương Khiên sau đó nộp tiền chuộc tội, rồi bị giáng xuống làm thứ dân.
