Sử ký có chép lại hai câu chuyện về Lý Quảng, lưu lại hình tượng một vị tướng vừa dũng cảm vừa mưu lược. Khi đối diện cường địch, ông vẫn điềm tĩnh tự nhiên. Khi làm Thái thú trấn giữ biên cương, nhiều năm liền Hung Nô không dám xâm phạm, họ gọi ông là “Hán Phi tướng quân”. Trong triều đình nhà Hán, cũng có người ca ngợi tài năng của Lý Quảng là vô song.
Sau khi Hán Vũ Đế lên ngôi, Lý Quảng được bổ nhiệm làm Vệ úy ở Vị Ương cung, còn Trình Bất Thức làm Vệ úy ở Trường Lạc cung. Việc này, chúng tôi đã từng nhắc đến khi nói về cái chết của Đậu Anh. Lý Quảng và Trình Bất Thức đều từng giữ chức Thái thú tại biên quận, tức là chức vụ tương đương với tổng đốc một tỉnh biên cương, là trọng thần trấn thủ biên thùy. Nhưng cách họ quản lý quân đội lại rất khác nhau.
Trình Bất Thức dẫn binh thì kỷ luật nghiêm minh, văn thư giấy tờ trong quân ngũ cũng hết sức tỉ mỉ. Ngược lại, Lý Quảng dùng binh giản dị, quân đội thường đóng ở nơi cỏ nước dồi dào, binh sĩ ai nấy tự do, không câu nệ kỷ luật quá nghiêm, cũng chẳng có nhiều giấy tờ văn bản. Ban đêm cũng không lập gác canh giữ, nhờ vậy binh sĩ được nghỉ ngơi đầy đủ. Như thế thì an toàn của doanh trại được bảo đảm thế nào? Lý Quảng thường cho kỵ binh do thám đi xa khắp các hướng, cứ gặp quân Hung Nô thì lập tức báo về để đại quân chuẩn bị.
Ngoài ra, Lý Quảng rất quan tâm và thương yêu binh sĩ. Ông từng bảy lần làm Thái thú, tổng cộng cả bốn mươi năm, hễ được ban thưởng thì đều chia cho thuộc hạ. Việc ăn uống của Lý Quảng cũng như binh sĩ bình thường, tài sản chẳng có dư dả, cũng không sắm sửa mua đất hay xây nhà. Tính ông ít nói, khi ở với người khác thường lấy gậy vạch đất bày trận, so tài cao thấp, lấy bắn cung làm trò tiêu khiển. Khi hành quân mà gặp nơi khan hiếm nước, nếu còn một người lính chưa uống nước, Lý Quảng cũng không uống. Nếu còn một binh sĩ chưa ăn, thì ông cũng nhịn. Ông luôn chăm lo cho binh sĩ, và rất coi trọng họ. Bởi vậy, tướng sĩ cũng đều hết sức kính yêu Lý Quảng.
Lý Quảng là một thần xạ thủ, với tài bắn cung siêu việt. Nếu không thể bảo đảm rằng mũi tên bắn ra sẽ lập tức giết được kẻ địch hoặc thú dữ, ông sẽ tuyệt đối không buông dây. Bởi vậy, khi đi săn, nhiều khi thú rừng đã lao thẳng đến trước mặt rồi ông mới chịu bắn, thậm chí có lần vì thế mà bị thương. Khi hành quân tác chiến, mỗi lần đóng quân tại một nơi, ông đều cho binh sĩ thi bắn cung, xem ai là người bắn giỏi nhất.
Với phong cách ấy, ông rất được tướng sĩ kính yêu. Trong thời đại Hán Vũ Đế – một triều đại bốn bề chinh chiến, không ngừng mở mang bờ cõi – một vị tướng được binh sĩ tôn phục như vậy vốn dĩ rất dễ được phong hầu. Thế nhưng, Lý Quảng lần nào cũng lỡ mất cơ hội.
Lần đầu tiên là vào thời Hán Cảnh Đế. Khi bảy nước nổi loạn, Lý Quảng theo Chu Á Phu phản kích quân phản loạn, dưới thành Xương Ấp đã đoạt lấy soái kỳ của địch, lập công lớn. Lương Vương đã bí mật trao cho ông ấn tướng quân. Nhưng việc ấy lại là điều đại kỵ: chư hầu kết giao riêng với tướng lĩnh triều đình, thì rất dễ bị nghi ngờ là mưu đồ bất chính. Việc này đã bị lộ thông tin ra ngoài. Vì vậy, khi Lý Quảng khải hoàn trở về, ông không hề được ban thưởng hay phong tước.
Về sau, Lý Quảng nhiều lần gặp trắc trở. Năm 129 TCN, Hán Vũ Đế lệnh cho Vệ Thanh, Lý Quảng, Công Tôn Hạ và Công Tôn Ngao chia bốn lộ xuất quân. Lý Quảng không may chạm phải chủ lực Hung Nô. Một trận chiến long trời diễn ra, binh lính dưới trướng Lý Quảng rất dũng mãnh, nhưng đại quân Hung Nô quá đông. Quân Hán toàn quân bị tiêu diệt.
Lúc đó, Lý Quảng bị thương nặng, không thể đứng dậy. Người Hung Nô giăng lưới giữa hai con ngựa, trói ông trong đó. Lý Quảng giả vờ chết, thừa lúc quân Hung Nô lơ là, ông bất ngờ bật dậy, đạp ngã tên áp giải, đoạt lấy cung tên, rồi liều chết chạy về phương nam. Cuối cùng, Lý Quảng trải qua thập tử nhất sinh, nhưng đã thoát được trở về lãnh thổ Đại Hán.
Theo pháp luật thời Hán, tướng quân bại trận đáng lẽ phải bị xử tử, nhưng khi đó đúng vào thời chiến tranh, chém tướng là điều chẳng lành. Hán Vũ đế cho phép Lý Quảng dùng tiền để chuộc tội. Lý Quảng dùng rất nhiều tiền để chuộc tội và được miễn tội chết, nhưng bị giáng thành thường dân. Không lâu sau, Hung Nô lại xâm phạm Liêu Tây, Hán Vũ Đế lại buộc phải gọi Lý Quảng.
Cơ hội cuối cùng để phong hầu là trong trận Mạc Bắc. Khi ấy, Lý Quảng theo Vệ Thanh chính chiến. Thực ra, Hán Vũ Đế vốn không muốn để ông đi: một là bởi tuổi tác đã cao, hai là vì Vũ Đế cho rằng Lý Quảng “số kỵ”. Chữ “số” là mệnh số, “kỵ” nghĩa là lẻ; “số kỵ” tức vận số bất thường, không may mắn. Vì thế, hoàng đế do dự không muốn để Lý Quảng xuất chinh.
Lý Quảng có một đường đệ tên là Lý Thái. Thanh danh không bằng Lý Quảng, nhân phẩm cũng chẳng ra gì. Sử ký chép rằng Lý Thái “vi nhân hạ trung”, tức là loại người thuộc hàng kém cỏi nhất. Thế nhưng, Lý Thái lại được phong hầu, không chỉ thế, sau khi Thừa tướng Công Tôn Hoằng qua đời, ông ta còn kế nhiệm chức Thừa tướng, trở thành một trong Tam công. Hãy thử nghĩ mà xem, trong lòng Lý Quảng liệu có chịu nổi chăng? Vì thế, ông cảm thấy nếu lần này không ra trận thì sẽ chẳng còn cơ hội phong hầu nữa, thế là bèn dâng sớ xin Hán Vũ Đế cho đi đánh trận. Hoàng đế không còn cách nào, đành để ông theo Vệ Thanh, giữ chức Tiền tướng quân.
Ngay trước thềm quyết chiến, Vệ Thanh bắt được một tên tù binh. Từ lời khai, ông biết được vị trí cụ thể của Hung Nô Thiền vu. Đây là cơ hội trời ban cho Vệ Thanh, và cũng là dịp may lớn của Lý Quảng. Bởi với binh lực hùng hậu của nhà Hán, nếu tìm được đại doanh của Thiền vu thì thắng lợi đã nắm chắc. Lý Quảng giữ chức Tiền tướng quân, lẽ ra lập công phong hầu là chuyện đương nhiên.
Nhưng bất ngờ thay, Vệ Thanh hạ lệnh điều Lý Quảng từ Tiền quân sang cánh phải, hợp binh cùng Hữu tướng quân Triệu Thực Kỳ đi vòng phía bên phải. Con đường này phải đi một vòng rất xa, lại không có cỏ nước.
Đối với Lý Quảng, đây là mệnh lệnh khó chấp nhận. Nhưng sự thật, người quyết định không phải Vệ Thanh, mà chính là Hán Vũ Đế. Bởi nhà vua đã căn dặn Vệ Thanh rằng Lý Quảng là người “số kỵ”, nếu gặp Thiền vu Hung Nô thì tuyệt đối không được để Lý Quảng xung phong ở phía trước. Vì thế, Vệ Thanh mới phải điều ông đi, rồi thay bằng Công Tôn Ngao – một người thân tín – giữ chức Tiền tướng quân. Công Tôn Ngao vốn là ân nhân của Vệ Thanh: năm xưa khi Vệ Tử Phu vừa nhập cung, Thái Trưởng công chúa – mẹ của hoàng hậu Trần A Kiều – từng mưu sát Vệ Thanh, chính Công Tôn Ngao đã ra tay cứu giúp. Nhưng về sau Công Tôn Ngao lại mất tước hầu, vì vậy Vệ Thanh muốn cho ông ta một cơ hội lập công.
