Tập 108: Lý Lăng và Trận thảm chiến với đại quân Hung Nô

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 26/10/2025

Sau trận đánh Đại Uyển, nhờ uy thế quốc lực hùng mạnh và thanh thế quân sự mà quân Hán đã phô diễn trong cuộc viễn chinh, toàn bộ các nước ở Tây Vực đều bắt đầu quy phục nhà Đại Hán. Trước kia, những nước Tây Vực này vốn thần phục Hung Nô, nộp thuế cho Hung Nô. Vì vậy, khi quay sang thần phục Đại Hán, lợi ích của Hung Nô lập tức bị đe dọa. Cũng bởi sự tranh chấp những thuộc quốc ấy, sau gần hai mươi năm hòa bình, nhà Hán và Hung Nô lại một lần nữa khai chiến. Lúc này, Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh đều đã qua đời, tướng lĩnh cầm quân là một ngoại thích khác – tên là Lý Quảng Lợi.

Lý Quảng Lợi vì sao được phong làm tướng quân? Đó là nhờ người anh ruột là Lý Diên Niên. Vừa rồi ta đã nhắc đến Lý Diên Niên, vốn là bằng hữu thân thiết với Vệ Luật. Sau khi Lý Diên Niên bị giết, Vệ Luật mới đầu hàng Hung Nô.

Chức quan của Lý Diên Niên là Hiệp luật Đô úy, tức là nhạc sư trong cung đình, chuyên hầu bên cạnh Hán Vũ Đế. Có một lần, Lý Diên Niên hát cho Hán Vũ Đế nghe một khúc ca. Bài ca ấy rất nổi tiếng, được chép trọn trong Hán thư – Ngoại thích truyện thượng rằng:

“Bắc phương hữu giai nhân,
Tuyệt thế nhi độc lập.
Nhất cố khuynh nhân thành,
Tái cố khuynh nhân quốc.
Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc,
Giai nhân nan tái đắc.”

Dịch thơ như sau:

Phương Bắc có giai nhân,
Tuyệt sắc đứng một mình.
Ngoảnh lại nghiêng đổ thành,
Ngoái lại nghiêng cả nước.
Há chẳng biết nghiêng thành nghiêng nước,
Nhưng giai nhân khó gặp lần hai.

Nghĩa là: Phương Bắc có giai nhân, tuyệt sắc mà đứng một mình. Ngoảnh nhìn một lần, nghiêng đổ cả thành; ngoảnh nhìn lần nữa, nghiêng đổ cả nước. Há chẳng biết rằng, nghiêng thành nghiêng nước là tai họa lớn, nhưng giai nhân ấy thật khó gặp lại được.

Nghe xong, Hán Vũ Đế than rằng: “Hay quá! Trên đời há có người như vậy sao?” Lý Diên Niên bèn đáp: “Có chứ, chính là em gái thần.” 

Hán Vũ Đế liền triệu kiến em gái Lý Diên Niên, quả nhiên thấy dung nhan kiều diễm, lại giỏi ca vũ, liền nạp làm phi, tôn xưng là Lý phu nhân. Về sau, Lý phu nhân sinh hạ Xương Ấp vương Lưu Bác. 

Có một thời gian, Lý phu nhân được Hán Vũ Đế sủng ái vô cùng. Lý phu nhân có hai người anh: một là Lý Diên Niên, một là Lý Quảng Lợi. Đáng tiếc thay, giai nhân bạc mệnh, Lý phu nhân tuổi còn trẻ đã mắc bệnh mà qua đời. Trước lúc lâm chung, bà gửi gắm hai người anh cho Vũ Đế. Hán Vũ Đế cũng muốn phong hầu cho các anh của Lý phu nhân.

Thế nhưng khi xưa, Hán Cao Tổ Lưu Bang từng cùng công thần lập ra bạch mã chi minh rằng: kẻ không mang họ Lưu thì không được xưng vương, kẻ không có quân công thì không được phong hầu. Vì vậy, muốn phong hầu cho Lý Quảng Lợi, Hán Vũ Đế buộc phải phái ông ra trận. Lần đầu xuất chinh, Lý Quảng Lợi đem quân đánh chiếm Nhị Sư thành của Đại Uyển, nên được phong làm Nhị Sư tướng quân. Tất nhiên, xét về nhân cách lẫn tài năng, Lý Quảng Lợi còn thua xa Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh, cho nên khi đánh Đại Uyển, ông ấy chật vật khôn xiết, khó khăn lắm mới đánh bại Đại Uyển.

Năm Thiên Hán thứ hai (tức năm 99 TCN), Hán Vũ Đế lại phái Lý Quảng Lợi đem quân đánh Hung Nô, và sắp đặt Lý Lăng lo việc hậu cần vận lương.

Lý Lăng là cháu nội của Lý Quảng. Dường như gia tộc họ Lý này vốn không thuận hòa với các ngoại thích: Lý Quảng khi theo Vệ Thanh ra trận từng lạc đường, bị Vệ Thanh tra xét; sau lại thấy không còn hy vọng phong hầu mà tự sát. Con trai ông là Lý Cảm vì đánh bị thương Vệ Thanh mà bị Hoắc Khứ Bệnh dùng cung bắn chết. Nay đến đời cháu là Lý Lăng thì lại bị buộc phải đi làm hậu cần cho Lý Quảng Lợi. Có thể nhà họ Lý vốn coi thường ngoại thích, vì vậy khi Hán Vũ Đế bảo Lý Lăng đi phụ trách vận lương cho Lý Quảng Lợi, ông đã cương quyết từ chối.

Lý Lăng tâu với Hán Vũ Đế rằng:

“Đội quân mà thần thống lĩnh toàn là hảo hán đất Kinh Sở, võ nghệ cao cường, dũng cảm thiện chiến, hành quân đánh trận lại rất nghiêm minh. Họ có thể tay không đấu với mãnh thú, lại toàn là thần tiễn thủ. Nếu chỉ để họ làm việc hậu cần thì uổng phí quá, xin Bệ hạ cho thần được trực tiếp đối mặt Hung Nô ngoài sa trường.”

Hán Vũ Đế nói:

“Ngươi không muốn làm hậu cần cho Nhị Sư tướng quân sao? Nếu quả muốn ra tiền tuyến đánh giặc thì cũng được. Nhưng trẫm không có nhiều chiến mã, nếu ngươi muốn đánh, trẫm chỉ có thể cấp cho ngươi bộ binh mà thôi.”

Lý Lăng quả quyết nói:

“Bộ binh cũng được, chỉ cần cho thần 5.000 bộ binh, thần sẽ quét sạch Hung Nô.”

Lời lẽ ấy vô cùng hùng tráng. Hán Vũ Đế cũng bị khí phách ấy làm cho xúc động, bèn giao cho Lý Lăng 5.000 bộ binh.

Nhưng chúng ta ta đều biết, nếu đem bộ binh ra đánh với kỵ binh Hung Nô thì vô cùng bất lợi. Có mấy nguyên nhân như sau:

Thứ nhất, bộ binh cơ động kém, mà kỵ binh Hung Nô chạy rất nhanh, còn bộ binh hành quân thì chậm chạp.

Thứ hai, kỵ binh tấn công bộ binh thì như là ở phía trên chém xuống, đâm xuống, còn bộ binh muốn đánh kỵ binh thì phải “ngước lên mà tấn công”, rất khó khăn.

Thứ ba, nếu kỵ binh thất bại và tháo chạy thì bộ binh căn bản chẳng thể đuổi kịp.

Thế nhưng Lý Lăng không hề e sợ. Ông dám lấy bộ binh đánh Hung Nô là vì có trong tay một thứ “vũ khí bí mật” – thời Hán gọi là liên nỗ. Liên nỗ là loại nỏ dùng cơ cấu máy móc để liên tục bắn tên, gần giống như súng máy ngày nay, lại có thể bắn cùng lúc nhiều mũi tên. Do dùng máy bắn nên tầm bắn rất xa, lại có thể bắn liên tiếp, uy lực công kích rất mạnh, khiến Hung Nô khó lòng chống đỡ. Chính nhờ thứ vũ khí này giúp Lý Lăng có đủ tự tin dẫn bộ binh xuất chinh.

Lý Lăng đem quân tiến sâu vào lãnh thổ Hung Nô, từ Cư Duyên đi lên phương bắc suốt 30 ngày, tới một nơi gọi là Tuấn Kê sơn. Trên đường đi, Lý Lăng còn vẽ lại bản đồ những nơi đã qua, phái Trần Bộ Nhạc trở về báo cho Hán Vũ Đế. Trần Bộ Nhạc tâu rằng Lý Lăng dụng binh rất có phương pháp, tướng sĩ hết lòng tận lực. Hán Vũ Đế nghe xong rất mừng, phong Trần Bộ Lạc làm quan lang.

Nhưng ngay sau đó, tai họa lập tức ập đến: tại nơi ấy, 5000 bộ binh của Lý Lăng chạm trán đại quân chủ lực của Thiền vu Hung Nô, có đến 3 vạn kỵ binh. Với sự cơ động của Kỵ Binh, Thiền vu Hung Nô lập tức triển khai bao vây quân Hán.

Lý Lăng lập trận bằng xe lớn, sử dụng Liên nỗ, nghìn nỏ cùng lúc bắn ra, đánh bại được quân của Thiền vu. Đây là vũ khí rất lợi hại, tên bắn ra liên tục như mưa, kỵ binh của Thiền vu tổn thất nặng nề. Lý Lăng dùng liên nỏ bắn dồn dập, giết hơn 3.000 quân Hung Nô. Thiền vu chưa từng thấy loại vũ khí này, nên đành ra lệnh cho quân tạm lui, rồi triệu tập Tả Hiền vương và Hữu Hiền vương dẫn thêm 8 vạn quân, cộng lại thành 11 vạn kỵ binh, vây chặt quân Lý Lăng.

Thấy thế quân quá chênh lệch, Lý Lăng vừa đánh vừa rút, đội quân hướng về phía nam, mong sớm trở lại đất Đại Hán. Quân Hung Nô liên tục bao vây, ông lại liên tục dùng liên nỏ phá vòng vây. Sau đó, Thiền vu bắt đầu chán nản, than rằng: “Mấy nghìn bộ binh của Lý Lăng mà ta còn không đối phó nổi, chi bằng bỏ đi.” 

Nhưng có kẻ khuyên: “Đại vương, không thể rút. Nhà Hán và Hung Nô thường xuyên giao chiến, nay đại vương đem 11 vạn kỵ binh mà không dẹp nổi 5.000 bộ binh, sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến uy danh Hung Nô. Về sau, quân ta còn lấy gì mà đối mặt với nhà Hán? Hơn nữa, đại vương không cần lo quân Hán có phục binh. Vì đi thêm bốn, năm mươi dặm nữa sẽ đến một vùng đồng bằng rộng rãi. Nếu nhà Hán có phục binh thì hẳn phải chờ ở đó, còn hiện tại, chúng ta vẫn có cơ hội tiêu diệt Lý Lăng.” 

Nghe vậy, Thiền vu lại một lần nữa siết chặt vòng vây.

Đúng lúc này, Lý Lăng gặp phải vấn đề nghiêm trọng: mũi tên trong quân sắp cạn sạch. Và ngay khi ấy, có một việc vô cùng bất hạnh xảy ra. Dưới trướng ông có một hiệu úy tên là Quản Cảm, sau khi bị cấp trên sỉ nhục thì phẫn uất, đã bỏ sang đầu hàng Hung Nô và được diện kiến Thiền vu.

Quản Cảm tiết lộ cho Thiền vu hai bí mật quân sự:

Thứ nhất, quân Lý Lăng chỉ là một cánh quân đơn độc, không hề có viện binh từ nhà Hán, nên cứ yên tâm truy kích.

Thứ hai, mũi tên trong quân Lý Lăng đã gần hết sạch. Hiện giờ ông ta chỉ còn 1.600 quân, chia làm hai cánh: một cánh quân do Lý Lăng chỉ huy 800 người, cánh kia do tướng Hàn Diên Niên chỉ huy 800 người, dựng hai lá đại kỳ – một vàng, một trắng.

Quản Cảm nói: “Chỉ cần đại vương cho người bắn hạ hai lá cờ ấy, trận thế của Lý Lăng ắt sẽ tan vỡ.”

Thiền vu Hung Nô vô cùng vui mừng, bèn dồn Lý Lăng vào một thung lũng. Lý Lăng dùng liên nỏ bắn về phía Thiền vu, trong một ngày bắn ra tới năm trăm ngàn mũi tên, cho đến khi tên đã bắn hết sạch. Lúc này, cả đường trước lẫn đường sau đều bị Hung Nô chặn kín. Thiền vu ra lệnh cho quân từ trên núi ném đá xuống, nhắm vào quân Hán đang bị vây trong thung lũng.

Quân Hán đã cạn hết vũ khí và cung tên, phải tháo bánh xe ra, lấy nan xe làm vũ khí – đó chỉ là những gậy gộc ngắn; ngoài ra còn có binh sĩ dùng dao găm. Với những thứ vũ khí thô sơ ấy chống lại Hung Nô thì hoàn toàn không còn hy vọng. Thế là Lý Lăng đại bại.

Sau khi thua trận, Lý Lăng từng có ý định dẫn một toán quân xông lên liều chết với Thiền vu, nhưng đi một vòng không tìm thấy, lại quay về. Về đến doanh trại, ông nói với binh sĩ: “Nếu chúng ta còn vài chục mũi tên nữa, thì đã có thể phá vòng vây rồi, đáng tiếc là giờ không còn một mũi tên nào.” Ông chia cho mỗi người một chút lương khô và một tảng băng, bảo ai nấy tự tản ra, men núi vượt rừng mà tự tìm đường thoát. Lý Lăng nói: “Nếu các ngươi gặp may, còn có thể trở về đất Hán.” Sau đó quân sĩ liền chia nhau tản đi.

Lý Lăng dẫn theo hơn mười người cùng Hàn Diên Niên mở đường máu. Trong hỗn chiến điên cuồng, Hàn Diên Niên tử trận. Lý Lăng than rằng: “Quân bại đến nước này, ta nào còn mặt mũi trở về gặp Hoàng đế nữa.” Lý Lăng không phản kháng nữa, rồi ông bị Hung Nô bắt.

Khoảng hơn bốn trăm bộ binh của Lý Lăng bỏ trốn, trải qua thập tử nhất sinh mà may mắn thoát được, trở về báo tin thất bại cho Hán Vũ Đế. Ban đầu, Hán Vũ Đế cho rằng Lý Lăng đã tử trận, bèn sai người đến an ủi mẹ và vợ ông. Nhưng trong triều có người biết xem tướng, họ nói rằng trên nét mặt họ không hề hiện ra tướng tang tóc. Từ đó Hán Vũ Đế nghi ngờ Lý Lăng chưa chết.

Về sau, khi nghe tin Lý Lăng đã đầu hàng Hung Nô, Hán Vũ Đế nổi giận dữ, trách hỏi Trần Bộ Lạc. Trần Bộ Lạc vì thế mà tự sát. 

Tin tức Lý Lăng đầu hàng Hung Nô, thực ra cũng chưa chắc đã là sự thật, cũng có thể là do tin đồn sai lệch. Thực ra lúc đầu Hán Vũ Đế vẫn còn nghĩ tới Lý Lăng, mong có cơ hội nào đó triệu ông trở về Đại Hán. Nhưng do một chuỗi tin đồn sai lệch như vậy, cuối cùng dẫn đến việc cả gia tộc Lý Lăng bị giết sạch.

Có thể Lý Lăng ban đầu cũng không đầu hàng Hung Nô, nhưng khi cả gia tộc đã bị tru di, thì ông không còn chút lòng trung nào với nhà Hán nữa. Lý Lăng đã hoàn toàn quy hàng Hung nô.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tần Hoàng Hán Vũ

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>