Ngay sau khi lên ngôi, Hán Vũ Đế đã bắt đầu tiến hành chiến tranh với Hung Nô. Đồng thời, ông còn cho quân chinh phạt và mở rộng lãnh thổ trên khắp bốn phương — từ việc bình định vùng Triều Tiên ở Đông Bắc cho đến khai phá vùng Tây Nam Di. Tất cả những cuộc viễn chinh ấy đều cần đến một nguồn tài chính khổng lồ để duy trì.
Tuy rằng khi đăng cơ, Hán Vũ Đế được thừa hưởng khối của cải đồ sộ được tích lũy suốt hơn bốn mươi năm của thời “Văn Cảnh chi trị”, nhưng chỉ hơn hai mươi năm sau, toàn bộ số của cải ấy đã bị tiêu hết.
Khi Hán Vũ Đế lên ngôi, ngân khố triều đình vẫn rất dồi dào, nhưng chỉ trong khoảng hai mươi hai năm, ông đã tiêu sạch. Số tiền khổng lồ ấy chủ yếu được dùng cho những cuộc chiến tranh bên ngoài. Chi phí chiến tranh không chỉ gồm việc vận chuyển, tiếp tế lương thảo, mà còn cần tiền cấp cho gia đình tử sĩ và tiền thưởng cho các tướng lĩnh lập công.
Tuy không có thống kê tổng hợp chính xác, nhưng Sử ký đã để lại cho ta vài con số có thể hình dung.
Trong ba cuộc đại chiến giữa nhà Hán và Hung Nô — Chiến dịch Hà Nam, Chiến dịch Hà Tây, và Chiến dịch Mạc Bắc, chúng ta lấy ví dụ ở trận Mạc Bắc năm 119 TCN. Theo Sử ký – Bình chuẩn thư, chỉ riêng tiền thưởng mà Hán Vũ Đế ban cho các tướng sĩ dưới quyền Vệ Thanh đã lên đến hơn 20 vạn cân vàng.
Thời đó, một cân vàng trị giá một vạn tiền, tức là tổng số tiền thưởng tương đương hơn hai tỷ tiền. Còn quân của Hoắc Khứ Bệnh cũng được thưởng gần bằng mức đó. Tổng cộng mức tiền thưởng cho quân sĩ là khoảng 50 vạn cân vàng, tức là năm tỷ tiền.
Mà ngân khố quốc gia khi ấy mỗi năm chỉ thu được khoảng năm tỷ tiền, nghĩa là chỉ riêng tiền thưởng sau trận chiến đã tiêu hết toàn bộ ngân sách một năm của triều đình. Đó là còn chưa kể đến thiệt hại về ngựa chiến, vũ khí, áo giáp, lương thực bị tiêu hao, cũng như chi phí chữa trị cho thương binh và trợ cấp cho người tử trận.
Lấy thêm một ví dụ khác: theo Sử ký – Bình chuẩn thư, vào năm 121 TCN, khi Hồn Tà Vương và Hưu Tu Vương của Hung Nô dẫn quân đến xin hàng, tiền thưởng ban cho những người đầu hàng và công thần có công đã lên tới hơn 100 tỷ tiền, tức là tương đương hai năm ngân sách quốc gia. Từ những con số này có thể thấy, chi phí chiến tranh dưới thời Hán Vũ Đế lớn đến mức khó lòng tính toán nổi.
Ngoài việc chinh phạt biên cương, Hán Vũ Đế còn tiến hành nhiều công trình đại quy mô. Chẳng hạn, sau chiến dịch Hà Nam, ông lập quận Sóc Phương, rồi cho xây thành Sóc Phương. Theo Bình chuẩn thư, chi phí lúc đó lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ tiền.
Rồi khi Hán Vũ Đế cho mở thông đường sang Tây Nam Di, phải đào núi, mở đường qua Tứ Xuyên và các vùng hiểm trở, lương thực phải vận chuyển từ ngàn dặm xa xôi. Cứ mười chuông thóc thì chỉ có một thạch đến được tiền tuyến (một chuông thóc bằng sáu thạch bốn đấu) – tức là chỉ khoảng 3% lương thực được vận chuyển thực sự đến nơi, phần còn lại đã bị hao tổn dọc đường.
Thời Hán Vũ Đế còn phải đắp đê Hoàng Hà, lên Thái Sơn tế Trời Đất, lại thường xuyên tuần hành thiên hạ, tất cả đều tốn kém khôn lường.
Đến sau trận Mạc Bắc năm 119 TCN, quan Đại Nông Lệnh dâng sớ tâu rằng:
“Số tiền tích lũy từ trước nay đã tiêu sạch, thuế năm nay nộp vào cũng không đủ chi. Xin hỏi bệ hạ nên làm thế nào?”
Muốn giải quyết vấn đề tài chính, chỉ có hai cách:
1. Tìm cách thu thêm tiền.
2. Cắt giảm chi tiêu.
Nhưng các cuộc chiến tranh và đại công trình của Hán Vũ Đế đều không thể dừng lại, nên chỉ có thể nghĩ cách mở rộng nguồn thu.
Thông thường, cách tăng nguồn thu của nhà nước là tăng thuế. Tuy nhiên, dưới thời Hán Vũ Đế, thuế thực ra không tăng nhiều.
Trước đó, vào thời Hán Văn Đế, thuế ruộng là mười lăm lấy một – tức là nông dân phải nộp 1/15 số lúa thu hoạch.
Đến thời Hán Cảnh Đế, thuế giảm còn ba mươi lấy một, tức là nông dân phải nộp 1/30 số lúa thu hoạch, và suốt đến thời Hán Vũ Đế, mức này vẫn được giữ nguyên. Đó là thuế điền phú, tức thuế đánh vào nông sản.
Ngoài ra, dân còn phải nộp thuế thân:
– Nam giới từ 15 đến 56 tuổi, mỗi người nộp 120 tiền/năm;
– Trẻ em từ 3 đến 14 tuổi, mỗi người nộp 20 tiền/năm.
Khi ấy dân số nhà Hán khoảng 40 triệu người, mà tổng thu ngân sách hàng năm chừng 50 tỷ tiền, thì có thể thấy thuế thân chính là nguồn thu chủ yếu.
Hán Vũ Đế có tăng đôi chút – mỗi người nộp thêm 3 tiền/năm – nên với 40 triệu dân, quốc khố cũng chỉ tăng thêm khoảng 1 tỷ tiền. So với chi phí chiến tranh lên đến hàng trăm tỷ, khoản tăng ấy chẳng khác nào muối bỏ bể.
Hán Vũ Đế buộc phải nghĩ tới những kế khác. Một trong những cách là bán võ công tước — tức là người dân có thể bỏ tiền để mua tước vị nhỏ, họ sẽ từ thường dân thăng lên làm quý tộc. Một mặt, tước vị mang tới danh vọng xã hội; mặt khác, người có tước vị thường được miễn lao dịch
Một nguồn thu khác là chuộc tội bằng tiền: như trước đây chúng ta đã nhắc, những người như Lý Quảng, Trương Khiêm… sau khi thua trận đáng lẽ phải bị xử tử, nhưng họ bỏ tiền mua mạng để được tha.
Còn một nguồn nữa là kêu gọi dân chúng đóng góp công quỹ. Trong Sử ký có chép một người tên Bốc Thức vốn là kẻ chăn cừu. Bốc Thức viết một tấu thư dâng lên triều đình, xin góp một nửa gia sản của mình nộp cho quốc gia — điều này ở thời ấy thật là hiếm thấy.
Hán Vũ Đế biết chuyện thì phái người hỏi Bốc Thức rằng: “Ngươi muốn được phong chức sao?” Bốc Thức đáp: “Thần từ nhỏ chăn cừu, không biết làm quan, cũng không ham làm quan.” Hoàng đế lại hỏi: “Hay ngươi có oán thù gì muốn tố cáo với trẫm?” Bốc Thức nói: “Không có. Thần với làng xóm hòa thuận, ai thiếu tiền thì cho vay, ai muốn kinh doanh thần chỉ bảo, dân làng đều nghe tôi, chẳng ai oán thần cả.”
Hán Vũ Đế hỏi: “Vậy tại sao ngươi làm vậy?” Bốc Thức trả lời: “Thần biết triều đình đang đánh Hung Nô; làm dân nhà Hán, có của thì nên dâng của, có sức thì nên dâng sức. Thần không có sức, nhưng nguyện đóng góp của cải, mong sớm dẹp được Hung Nô.”
Vì trước nay chưa từng có chuyện như vậy, Hán Vũ Đế cũng không biết xử lý thế nào, nên hỏi ý kiến Thừa tướng Công Tôn Hoằng. Công Tôn Hoằng vốn là người hẹp hòi, hắn nói:
“Trên đời làm gì có người tốt đến thế, tự nhiên lại dâng nửa gia sản cho triều đình mà không cầu danh lợi. Ắt là hắn có mưu đồ gì đó, hãy để mặc kệ hắn.”
Nghe vậy, Hán Vũ Đế liền cho trả Bốc Thức về quê.
Hơn một năm sau, triều đình tiến hành dời dân, phải đưa một số lượng lớn người đi khai hoang vùng mới. Chi phí di dân đều do các quận, huyện dọc đường chi trả — phải lo cơm ăn, chỗ ở cho dân di chuyển, nên tiền tiêu rất nhanh, đặc biệt là ở quận Hà Nam, ngân quỹ sớm cạn kiệt. Khi ấy, Bốc Thức lại một lần nữa đem 20 vạn tiền giao cho Thái thú Hà Nam để giúp đỡ việc di dân.
Quan Thái thú thấy chuyện ấy khác thường nên dâng tấu báo lên Hán Vũ Đế. Hoàng đế xem tấu, lại thấy cái tên Bốc Thức, ông liền nói: “Ta từng nghe đến người này rồi.”
Nhà vua bèn cho Bốc Thức được miễn toàn bộ sưu dịch của bản thân, lại cho phép Bốc Thức có quyền miễn luôn sưu dịch cho 400 người khác. Ý rằng họ muốn cho Bốc Thức quyền miễn sưu dịch cho gia tộc và bằng hữu.
Thế nhưng Bốc Thức đem tất cả quyền miễn ấy nộp lại cho triều đình, không giữ cho riêng mình.
Hán Vũ Đế cảm phục, cho rằng Bốc Thức là bậc hiền đức, liền triệu vào kinh đô, phong làm Trung lang, ban tước Tả thứ trưởng, thưởng 10 khoảnh ruộng, rồi ban chiếu công bố thiên hạ. Và đương nhiên chức quan này chỉ có danh phận, chứ không phải làm việc.
Ban đầu, Hán Vũ Đế muốn bổ nhiệm Bốc Thức làm quan chính thức, nhưng Bốc Thức nói: “Thần không biết làm quan, xin bệ hạ miễn cho.”
Hán Vũ Đế hỏi:
“Thế ngươi biết làm gì?”
Bốc Thức đáp:
“Thần chỉ biết chăn cừu.”
Hán Vũ Đế nói:
“Trẫm có hơn ngàn con cừu ở Thượng Lâm Uyển, vậy ngươi hãy giúp trẫm chăm chúng.”
Thượng Lâm Uyển là khu ngự uyển rộng lớn, cũng là nơi hoàng đế đi săn. Bốc Thức được phong lang quan, rồi tới đó chăn cừu. Chẳng bao lâu, đàn cừu sinh sôi nảy nở vô cùng thịnh vượng.
Một hôm Hán Vũ Đế đi qua Thượng Lâm Uyển, thấy đàn cừu khỏe mạnh, mập tốt, bèn đến hỏi Bốc Thức:
“Ngươi làm cách nào mà nuôi cừu giỏi như thế?”
Bốc Thức đáp:
“Rất đơn giản, phải cho chúng sinh hoạt có quy luật — đến giờ thì dậy, đến giờ thì ăn, đến giờ thì nghỉ. Dân thường cũng như vậy: chỉ cần để họ sống điều độ, không quấy nhiễu, trừ bỏ những việc họ ghét, thì ai cũng yên ổn. Chăn cừu và trị dân vốn cùng một đạo lý — nước cũng dễ trị như đàn cừu vậy.”
Hán Vũ Đế nghe xong, vô cùng tâm đắc, nói:
“Nếu ngươi biết chăn dân như chăn cừu, vậy hãy ra làm quan để chăm lo cho dân.”
Thế là hoàng đế bổ nhiệm Bốc Thức làm Huyện lệnh Câu Thị (quận Hòa Nam). Dân trong huyện đó đã được sống yên ổn, hòa thuận. Sau đó, Hán Vũ Đế lại điều Bốc Thức làm Huyện lệnh Thành Cao, và trong kỳ khảo hạch vận lương năm ấy, Thành Cao xếp hạng nhất.
Hán Vũ Đế thấy ông tài năng và đức độ, phong cho tước Quan nội hầu, thưởng 10 khoảnh ruộng, rồi ban chiếu khắp thiên hạ bảo người đời noi gương Bốc Thức. Về sau, Bốc Thức được thăng đến chức Ngự sử đại phu — tương đương Phó Thủ tướng quốc gia thời nay.
