Năm 106 trước Công nguyên, Đại tướng quân Vệ Thanh qua đời. Từ đó, Thái tử không còn chỗ dựa lớn trong triều đình, còn Hoàng hậu Vệ Tử Phu – tuổi đã cao, nhan sắc phai tàn – cũng không còn được Hán Vũ Đế sủng ái như trước. Lúc này, trong triều có nhiều gian thần xu nịnh, lo sợ nếu Thái tử lên ngôi sẽ gây bất lợi cho họ, nên bọn chúng bắt đầu thi nhau vu cáo hãm hại Thái tử. Tuy nhiên, nhờ trí tuệ của Hán Vũ Đế, những lời gièm pha ấy ban đầu đều không có tác dụng.
Hán Vũ Đế vốn ít khi gần gũi với các hoàng tử, cũng hiếm khi gặp hoàng hậu. Một lần, Thái tử vào cung thăm mẹ, đến khi mặt trời đã xuống mà vẫn chưa ra. Quan hầu cận bên Hoàng đế tên là Tô Văn đã tâu rằng: “Thái tử trêu ghẹo cung nữ.” Hán Vũ Đế nghe vậy, bèn tăng số cung nữ trong Đông cung lên tới hai trăm người.
Sau khi biết chuyện, Thái tử đem lòng oán hận Tô Văn.
Tô Văn cùng các quan hầu cận như Thường Dung, Vương Bật, thường ngấm ngầm tìm cách bới móc, bịa đặt lỗi lầm của Thái tử rồi tâu lên Hoàng đế. Hoàng hậu Vệ Tử Phu giận đến nghiến răng, muốn Thái tử tâu xin giết bọn chúng. Nhưng Thái tử nói: “Chỉ cần ta không làm điều sai, việc gì phải sợ bọn Tô Văn! Hoàng thượng sáng suốt, tất sẽ không nghe lời gièm nịnh, không cần phải lo lắng.”
Một lần khác, Hán Vũ Đế cảm thấy trong người không khỏe, phái Thường Dung đi gọi Thái tử vào cung. Khi trở về, Thường Dung tâu rằng: “Thái tử nét mặt có vẻ vui mừng.” Hán Vũ Đế nghe xong chỉ im lặng.
Nhưng đến khi Thái tử vào, Hoàng đế nhìn thấy trên mặt con vẫn còn vết nước mắt, nhưng lại cố gượng cười nói, bèn sinh nghi. Sau đó Hán Vũ đế bí mật điều tra, mới biết sự thật. Đó là vì thái tử lo lắng cho cha đến phát khóc, nhưng vẫn cố tỏ ra vui để làm cha yên lòng.
Hán Vũ đế hiểu rằng Thường Dung dám lợi dụng điều này để hãm hại Thái tử. Hoàng đế lập tức ra lệnh xử tử Thường Dung.
Từ đó có thể thấy, Hán Vũ Đế là người rất tỉnh táo, ông vốn không phải người thiên vị hay cả tin. Hoàng đế có con mắt quan sát rất tinh tường, cũng hiểu rõ lòng hiếu thảo của Thái tử. Thêm vào đó, hoàng hậu Vệ Tử Phu luôn thận trọng giữ mình, tránh gây điều tiếng, nên dù đã lâu không còn được sủng ái, bà vẫn được Hán Vũ Đế đối đãi bằng lễ nghi tôn trọng.
Nhưng đời vốn khó lường. Người xưa có câu: Thất phu vô tội, hoài bích có tội. Tức là “kẻ áo vải vô tội, nhưng chỉ vì mang ngọc mà gặp tai họa” — không phải vì Thái tử làm sai, mà vì địa vị đó đã là mối nguy. Thái tử, dù là người kế vị chính thống, cũng không thoát khỏi định mệnh ấy.
Năm 94 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế có thêm một người con trai. Mẹ đứa trẻ ấy là Câu Dịch phu nhân. Lai lịch của bà rất kỳ lạ: vào những năm cuối đời, khi Hán Vũ Đế tuần hành đến vùng Hà Gian, có người tinh thông thuật “vọng khí” nói rằng nơi này có một người con gái phi phàm. Hoàng đế bèn sai người đi tìm, quả nhiên phát hiện một bé gái đặc biệt — từ khi sinh ra, hai tay bé luôn nắm chặt, không thể mở ra. Hán Vũ Đế liền đưa tay xoa nhẹ, kỳ lạ thay, bàn tay bé gái lập tức duỗi ra được. Cảm thấy linh dị, Hán Vũ Đế mang cô bé về cung, đặt hiệu là Quyền phu nhân (tức là: người có nắm tay), còn gọi là Câu Dịch phu nhân.
Về sau, Câu Dịch phu nhân mang thai — và mang suốt mười bốn tháng mới sinh ra con trai, đặt tên là Lưu Phất Lăng. Hán Vũ Đế vô cùng kinh ngạc, nói rằng: “Xưa mẹ của vua Nghiêu cũng mang thai mười bốn tháng mới sinh ra thánh nhân.” Vì thế, ông đặt tên cửa cung của Câu Dịch phu nhân là “Nghiêu Mẫu Môn”.
Lưu Phất Lăng từ năm, sáu tuổi đã khỏe mạnh, thông minh, thần sắc quắc thước, khiến Hán Vũ Đế thường nói: “Thằng bé này giống ta lắm.”
Những lời khen ấy, cùng với việc Hoàng đế tỏ ra yêu thương cậu bé, đã khiến bọn tiểu nhân trong triều dấy lên lòng dạ bất chính. Chúng cho rằng Hán Vũ Đế đang có ý phế Thái tử, lập con nhỏ làm người kế vị. Trong số đó, kẻ nóng lòng hành động nhất chính là Giang Sung.
Giang Sung vốn là người nước Triệu. Em gái ông từng được gả cho Thái tử nước Triệu. Tuy nhiên, vị Thái tử ấy là kẻ hoang dâm vô độ, làm nhiều chuyện trái luân thường đạo lý. Hắn sợ Giang Sung sẽ tố cáo mình, nên âm mưu giết ông để diệt khẩu. Giang Sung biết chuyện, bèn trốn chạy đến kinh đô, dâng thư tố cáo lên Hán Vũ Đế. Sau vụ ấy, Thái tử nước Triệu bị phế truất.
Hán Vũ Đế thấy Giang Sung gan dạ, lại biết nắm cơ hội lập công, nên phong cho ông ta chức Giám sát bách quan, chuyên điều tra quan lại có hành vi bất pháp.
Có một lần, Thái tử Lưu Cứ phái sứ giả đến cung Cam Tuyền để thăm hỏi Hán Vũ Đế. Trên đường đi, xe ngựa của sứ giả vô ý chạy vào trì đạo – là con đường dành riêng cho xe ngự của Hoàng đế. Trùng hợp thay, Giang Sung cũng đang theo đoàn đến Cam Tuyền và nhìn thấy. Theo quy định, trì đạo là đường thánh giá, quan lại hay thường dân nếu không có chỉ cho phép thì tuyệt đối không được đi vào.
Giang Sung liền bắt giữ sứ giả của Thái tử.
Khi biết chuyện, Thái tử Lưu Cứ lập tức cho người đến tạ lỗi, rồi nói:
“Không phải ta tiếc xe ngựa, chỉ là sợ việc này đến tai bệ hạ sẽ khiến người nghĩ rằng ta quản thuộc hạ không nghiêm. Mong ngài rộng lòng bỏ qua.”
Nhưng Giang Sung không chịu nghe, vẫn tâu thẳng lên Hán Vũ Đế. Hoàng đế nghe xong thì nói rằng: “Làm bề tôi mà giữ phép như thế là đúng lắm.”
Từ đó, Giang Sung càng được trọng dụng và tin cậy, quyền thế khuynh đảo kinh sư.
