Mặc dù Trương Tuần chỉ có hơn một nghìn binh sĩ, nhưng ông vẫn kiên trì cố thủ thành Ung Khâu. Thế nhưng chỉ với một tòa thành nhỏ bé, lương thảo và các loại khí giới đều rất hữu hạn, mà lại phải đối mặt với hàng vạn quân phản loạn đang vây khốn và công kích liên tục.
Thành Ung Khâu bị vây đã lâu, lương thực trong thành ngày càng cạn kiệt. Đúng lúc ấy, có mấy trăm chiếc thuyền chở lương thực tiếp tế cho quân Yên, thuyền vừa mới cập bến sông, vẫn còn chưa kịp dỡ hàng. Trương Tuần từ trên thành đã trông thấy tình hình này, ông bèn dồn quân về phía nam ngay trong đêm, bày thế như sắp xuất chiến. Lệnh Hồ Triều thấy vậy thì cũng dồn binh lực xuống phía nam. Khi biết quân Yên đã bị điều động về hướng nam, Trương Tuần liền phái các dũng sĩ lặng lẽ men tới bờ sông, đoạt lấy hơn nghìn hộc lương thực trên các thuyền vận tải của địch, rồi châm lửa đốt hết phần còn lại. Chỉ với mưu kế này, vấn đề lương thực đã được giải quyết.
Để chống lại những đợt tấn công dữ dội của quân Yên, quân thủ thành Ung Khâu đã bắn tên liên tục, chẳng mấy chốc đã bắn hết số mũi tên dự trữ. Vào ban đêm, Trương Tuần lệnh cho binh sĩ đem những người rơm đã chuẩn bị sẵn, mặc áo đen vào cho chúng, rồi buộc dây và thả từ trên thành xuống. Quân Yên trong đêm chỉ thấy lờ mờ có hàng trăm hàng nghìn “binh sĩ áo đen” đang men theo dây, leo xuống tường thành, liền vội cấp báo cho Lệnh Hồ Triều. Lệnh Hồ Triều tin chắc rằng Trương Tuần đang phái quân đột kích, bèn ra lệnh cho binh lính bắn tên liên tục.
Trong chốc lát, quân Yên bắn tên như mưa, từ suốt đêm cho đến khi trời hửng sáng. Đến lúc trời sáng, quân địch mới phát hiện những thứ treo lủng lẳng trên tường thành đều là người rơm, toàn thân cắm đầy mũi tên dày đặc. Chỉ với kế người rơm này, Trương Tuần đã thu được hàng chục vạn mũi tên, giải quyết được tình trạng thiếu vũ khí. Kế sách của Trương Tuần quả thật rất giống với kế “thuyền cỏ mượn tên” của Gia Cát Lượng trong thời Tam Quốc.
Mấy ngày sau, tình hình vẫn lặp lại như đêm hôm trước: trên tường thành lại xuất hiện những người rơm. Binh sĩ của Lệnh Hồ Triều thấy vậy thì cười nhạo, cho rằng Trương Tuần lại giở trò cũ, nên không bắn tên nữa. Ngày nào Trương Tuần cũng cho thả người rơm xuống, quân Yên dần quen với việc này, hoàn toàn không còn cảnh giác.
Vài ngày sau, Trương Tuần chọn ra năm trăm dũng sĩ, nhân lúc đêm tối họ dùng dây leo xuống ngoài thành. Binh sĩ quân Yên tưởng đó là người rơm nên không hề phòng bị. Năm trăm dũng sĩ nhân lúc địch mất cảnh giác liền bất ngờ xông thẳng vào đại doanh của Lệnh Hồ Triều. Quân Yên bị tập kích bất ngờ thì lập tức đại loạn, họ chen lấn xô đẩy, giẫm đạp lên nhau mà chạy, không còn phân biệt được địch ta. Lệnh Hồ Triều vội ra lệnh tập hợp binh mã, nhưng trong cơn hỗn loạn thì không kịp tổ chức phòng ngự, nên bị đánh đến mức tan tác bỏ chạy. Lệnh Hồ Triều phải thúc ngựa chạy hơn chục dặm mới có thể gắng gượng ổn định lại đội hình.
Một hôm, Trương Tuần cho lang tướng Lôi Vạn Xuân đứng trên thành đối thoại với Lệnh Hồ Triều. Quân Yên nhân cơ hội ấy dùng nỏ cơ bắn vào Lôi Vạn Xuân, trên mặt ông bị trúng sáu phát, thế nhưng vẫn đứng thẳng, bất động như núi. Lệnh Hồ Triều nghi rằng đó chỉ là người gỗ, bèn phái binh sĩ đến dò xét, khi biết chắc đúng là Lôi Vạn Xuân thì vô cùng kinh ngạc.
Từ xa, Lệnh Hồ Triều nói với Trương Tuần rằng: “Vừa rồi trông thấy Lôi tướng quân, ta mới biết quân lệnh của ngài nghiêm đến mức nào. Nhưng vậy thì đối với Thiên đạo có ích gì?” Ý muốn nói rằng: dù Trương Tuần có nghiêm quân đến đâu, cũng không thể thay đổi Thiên ý, đại Đường tất sẽ diệt vong.
Trương Tuần khẳng khái đáp lại: “Ngươi đến luân thường mà còn chẳng hiểu, thì lấy tư cách gì mà bàn chuyện Thiên đạo?”
Cứ thế, hai bên tiếp tục giằng co. Mặc dù Lệnh Hồ Triều có quân rất đông, nhưng vẫn không sao có thể công hạ thành Ung Khâu.
Vì bị vây hãm quá lâu, trong thành Ung Khâu đã không còn gỗ để dùng cho việc phòng thủ, nước cũng gần như khô kiệt. Trương Tuần bèn cố ý làm ra vẻ muốn bỏ thành, ông còn gửi lời cho Lệnh Hồ Triều rằng: “Ta muốn bỏ thành rút lui, mong ngài hãy lui quân sáu mươi dặm để ta tiện đường thoái đi”.
Lệnh Hồ Triều không biết đây là mưu kế nên đã đồng ý. Trương Tuần thấy quân của Lệnh Hồ Triều đã rút, ông lập tức dẫn toàn bộ quân trong thành kéo ra ngoài, tháo dỡ toàn bộ doanh trại của quân Yên trong phạm vi ba mươi dặm, mang toàn bộ gỗ trở về để dùng làm khí cụ thủ thành.
Lệnh Hồ Triều biết tin thì vô cùng tức giận, lập tức cho đại quân quay lại, vây chặt Ung Khâu. Nhưng Trương Tuần tiếp tục dùng nhiều mưu kế tinh diệu để đoạt lấy vật tư, lương thảo và gỗ từ quân địch, rồi liên tiếp đánh bại các đợt công kích của quân Yên, trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt.
Đến mùa xuân năm 757, An Lộc Sơn bị An Khánh Tự giết chết. Sau đó, An Khánh Tự phái bộ tướng là Doãn Tử Kỳ dẫn theo đại quân tinh nhuệ gồm các bộ tộc người Đột Quyết, người Hề… tổng cộng mười ba vạn quân tiến đánh Tuy Dương. Tuy Dương chính là Thương Khâu thuộc Hà Nam ngày nay, một khi nơi này thất thủ, sông Hoài Hà và Trường Giang sẽ hoàn toàn phơi bày trước mũi giáo của quân phản loạn.
Vì thế, Trương Tuần chủ động bỏ thành Ung Khâu để tới hỗ trợ Thái thú Tuy Dương là Hứa Viễn. Hứa Viễn biết năng lực mình không bằng Trương Tuần nên đã nhường chức Chủ soái cho ông.
Trương Tuần muốn tìm cơ hội để giết chủ soái quân địch là Doãn Tử Kỳ, nhưng lại không biết mặt hắn. Vì thế, khi hai bên giằng co trước trận chiến, Trương Tuần sai binh sĩ bắn sang doanh trại địch một mũi tên được vót từ cây dã hao. Đây là một loại cây thân nhỏ, dễ vót thành mũi tên, nhưng không đủ độ cứng. Binh sĩ quân địch nhặt được, tưởng rằng trong thành đã hết tên, liền hí hửng mang dâng lên cho Doãn Tử Kỳ.
Vừa lúc Doãn Tử Kỳ đưa tay nhận lấy mũi tên, Trương Tuần đứng trên tường thành đã nhìn thấy rõ, ông lập tức lệnh cho Nam Tế Vân nhắm thẳng vào hắn mà bắn. Nam Tế Vân là một tay thiện xạ rất có tài bách phát bách trúng. Mũi tên bắn xuyên vào mắt trái của Doãn Tử Kỳ, hắn ôm mặt thét lớn rồi ngã nhào xuống ngựa.
Trương Tuần lập tức hạ lệnh cho binh lính xuất thành, tiến đánh dữ dội. Và ông lại giành được một trận đại thắng. Tài dụng binh của Trương Tuần quả thật phi thường.
Tuy rằng Trương Tuần liên tiếp giành chiến thắng, nhưng binh lực lại hao mòn dần. Đến tháng 7 năm 757, ông đã cố thủ thành Tuy Dương được gần nửa năm, lương thực cũng cạn sạch. Binh sĩ mỗi ngày chỉ được chia một phần mười của một thăng gạo, hoàn toàn không đủ ăn. Họ phải lấy vỏ cây, lá trà, giấy vụn, trộn lại rồi đốt lên mà ăn. Sau đó thì ngay cả một hạt gạo cũng không còn.
Trương Tuần buộc phải cử Nam Tế Vân dẫn ba mươi kỵ binh tinh nhuệ phá vòng vây, đến Lâm Hoài để xin chi viện. Nam Tế Vân dẫn ba mươi kỵ binh dũng mãnh xông ra, đột phá vòng vây mà chạy, nhóm binh sĩ này dũng mãnh phi thường, hơn vạn quân địch cũng không thể chặn nổi.
Nam Tế Vân gặp được quan trấn thủ Lâm Hoài là Ngự sử đại phu Hạ Lan Tiến Minh. Hạ Lan Tiến Minh nói: “Sự tồn vong của Tuy Dương là đã định rồi, bây giờ mà xuất binh thì ích gì nữa?” Nam Tế Vân đáp: “Có thể thành vẫn chưa thất thủ. Nếu mà đã thất thủ rồi, ta sẽ lấy cái chết để tạ tội với ngài.”
Hạ Lan Tiến Minh vốn e sợ quân giặc, lại ghen ghét danh vọng của Trương Tuần, hoàn toàn không có ý xuất binh. Thế nhưng ông ta lại chú ý đến tài năng của Nam Tế Vân, muốn giữ lại để làm thủ hạ. Hạ Lan Tiến Minh đã bày tiệc linh đình để khoản đãi. Trong bữa tiệc, Nam Tế Vân bật khóc mà nói: “Hôm qua khi ta xung phá thoát khỏi Tuy Dương, tướng sĩ trong thành đã một tháng không có lương thực. Nay ngài không xuất binh, lại còn thiết yến tấu nhạc, xét theo đại nghĩa thì ta không thể một mình hưởng thụ, dù có ăn thì ta cũng không nuốt nổi. Nay nhiệm vụ chủ tướng giao cho ta còn chưa hoàn thành, ta xin để lại một ngón tay để làm tín vật”.
Nói rồi, ông rút đao chém đứt một ngón tay. Mọi người trong tiệc đều kinh hãi, có người bật khóc vì xúc động. Nam Tế Vân cuối cùng cũng không ăn gì, ông lập tức rời đi. Trước lúc lên đường, ông nói: “Chờ ta phá giặc trở về, nhất định sẽ giết Hạ Lan Tiến Minh.”
