Trần Thắng và Ngô Quảng, từ hai kẻ vô danh, họ đã dùng kế “ngư phúc đan thư” và “câu hỏa hồ minh” để gây dựng uy tín trong lòng binh sĩ. Lại thông qua bài diễn thuyết mà khích lệ tinh thần quyết chiến của quân lính. Trong vòng hơn một tháng, nghĩa quân đã công phá thành trì, mở rộng địa bàn, người hưởng ứng kéo đến như mây, liên tiếp giành thắng lợi.
Thế nhưng, Lão Tử từng nói: “Họa hề, phúc chi sở ỷ; phúc hề, họa chi sở phục.” Có nghĩa là: Tai họa là nơi mà phúc lành nương tựa, phúc lành lại là chỗ mà tai họa ẩn mình. Vậy thì, giữa lúc thế cuộc đang thịnh vượng như vậy, liệu có nguy cơ nào đang âm thầm ẩn giấu không.
Khi Trần Thắng và Ngô Quảng khởi binh tạo phản, thông điệp chính trị mà họ phát đi rất hỗn loạn, bởi vì họ giương hai ngọn cờ: một là ủng hộ công tử Phù Tô, hai là tôn vinh Hạng Yên. Mà Phù Tô là con trai Tần Thủy Hoàng, còn Hạng Yên là đại tướng nước Sở. Nếu công nhận Phù Tô thì tức là thừa nhận tính chính danh của Tần Thủy Hoàng, hay nói cách khác là của triều đại nhà Tần, vì họ muốn Phù Tô lên làm hoàng đế. Ngược lại, nếu tôn vinh Hạng Yên thì tức là công nhận tính chính danh của nước Sở.
Vậy rốt cuộc họ công nhận nước Tần, hay là công nhận nước Sở? Điều này Trần Thắng cũng không nghĩ rõ ràng, mà chỉ nghĩ làm sao cho càng có nhiều người hưởng ứng thì càng tốt.
Vấn đề thứ hai là việc Trần Thắng xưng vương quá sớm. Khi ông xưng vương ở Trần Khâu, đã có hai người đến gặp ông. Hai người này về sau đều là nhân vật phong vân trong thời kỳ chuyển tiếp giữa Tần và Hán: một người tên là Trần Dư, người kia là Trương Nhĩ. Trần Dư sau này bị Hàn Tín tiêu diệt trong cuộc chiến giữa Sở và Hán; còn con trai của Trương Nhĩ là Trương Ngao, sau này cưới công chúa Lỗ Nguyên – con gái của Lưu Bang.
Trần Dư và Trương Nhĩ đều là người Đại Lương, tức Khai Phong, Hà Nam ngày nay. Vì hai người này đã nổi tiếng từ thời Chiến Quốc, nên triều đình nhà Tần muốn mời họ làm quan, nhưng cả hai đều không nhận lời.
Khi Trần Dư và Trương Nhĩ gặp Trần Thắng, họ đã nói rằng: “Tướng quân xưng vương quá sớm rồi. Tướng quân nên lập con cháu quý tộc của Lục quốc làm vương, để họ phục quốc. Hiện giờ, chẳng khác nào một mình tướng quân đang chống lại toàn bộ sức mạnh của nước Tần. Nhưng nếu tướng quân phò lập con cháu quý tộc Lục quốc lên làm vương, thì một khi họ khôi phục được nước cũ, họ cũng sẽ chống Tần. Như vậy, nước Tần sẽ có thêm nhiều kẻ thù, không thể tập trung binh lực để đánh tướng quân. Vì vậy, chúng tôi khuyên tướng quân nên ‘tạm hoãn việc xưng vương’.”
“Mà nếu tướng quân giúp họ khôi phục quốc gia, họ sẽ mang ơn và nghe theo hiệu lệnh của tướng quân. Khi đó, tướng quân mới thật sự có thể dựng nên đại nghiệp đế vương.”
Nhưng Trần Thắng đã không nghe. Đây là sai lầm chiến lược thứ hai của Trần Thắng.
Kế sách của Trương Nhĩ và Trần Dư cũng đáng suy xét – họ khuyên Trần Thắng đừng vội xưng vương, mà phải vừa có thắng lợi về quân sự (tức là diệt nhà Tần, chiếm lấy Hàm Dương), phải vừa có tính chính danh và cảm hóa đạo nghĩa, rồi mới nên xưng vương sau.
Sai lầm thứ ba của Trần Thắng, là do quân sự phát triển quá nhanh, ông gần như không có sự chuẩn bị tâm lý, đột nhiên không biết nên làm gì tiếp theo. Và rồi Trần Thắng đã phạm sai lầm quân sự thứ ba: đó là tấn công ra khắp bốn phương.
Lẽ ra, khi trong tay có nhiều binh lính như vậy, ông nên tập trung binh lực đánh thẳng vào Hàm Dương, tiêu diệt chính quyền nhà Tần. Nhưng Trần Thắng và Ngô Quảng lại chia quân làm sáu đạo, tiến công theo sáu hướng khác nhau, khiến binh lực bị phân tán.
Trong đó, ba đạo quân quan trọng nhất là: một đạo tiến về phía tây đánh Hàm Dương, do Chu Văn chỉ huy; một đạo do Vũ Thần chỉ huy, tiến về phía bắc đánh nước Triệu; còn đạo quân thứ ba do Ngô Quảng dẫn quân, từ đất Trần xuất phát, tiến công Tỉnh Dương ở tây bắc. Tỉnh Dương là một thành trì rất kiên cố, lại là vị trí chiến lược trọng yếu.
Vũ Thần nhanh chóng chiếm được đô thành Hàm Đan của nước Triệu. Hàm Đan nằm ở phía nam tỉnh Hà Bắc, rất gần với tỉnh Hà Nam. Sau đó, ông chuẩn bị tiến quân tiếp lên phía bắc.
Lúc này, có một người tên là Khoái Triệt đến gặp Vũ Thần. Khoái Triệt vốn là một thuyết khách. Ông đề xuất một kế hoạch với Vũ Thần, nói rằng: “Chúng ta đánh trận mà chỉ dựa vào sức mạnh quân sự thì quá tốn sức. Tốt nhất là có thể “bất chiến nhi khuất nhân chi binh” – khiến kẻ địch khuất phục mà không cần giao chiến.”
Khoái Triệt nói: “Tôi biết huyện lệnh Phạm Dương là người nhút nhát, yếu đuối. Đại quân vừa kéo đến, chắc chắn ông ta sẽ đầu hàng. Nhưng sau khi ông ấy đầu hàng, ngài tuyệt đối không được giết ông ta. Bởi vì nếu giết, người khác sẽ nghĩ rằng: đầu hàng rồi cũng chết, vậy thì thà liều mạng kháng cự còn hơn.
Cho nên ngài đừng giết, mà phải làm thế này: hãy ban cho ông ta một cỗ xe, vinh hoa phú quý, rồi để ông ấy ngồi xe đi khắp nơi tuyên truyền – tức là dùng ông ta làm hình mẫu để chiêu hàng kẻ khác.”
Vũ Thần thấy kế này rất hay. Trước đó ông toàn dùng vũ lực, đánh chiếm được hơn chục thành. Sau khi dùng kế của Khoái Triệt, ông gần như không cần đánh mà chiêu hàng được hơn ba mươi thành, nhanh chóng chiếm gần như toàn bộ lãnh thổ nước Triệu.
Lúc này thế cục của Trần Thắng vô cùng thuận lợi. Từ khi khởi nghĩa ở Đại Trạch Hương, chỉ trong một tháng đã chiếm được đất Trần, sau đó thêm một hai tháng đã chiếm cả nước Triệu, lãnh thổ mở rộng với tốc độ chóng mặt.
Còn Tần Nhị Thế vốn là một công tử ham chơi, ăn uống vui đùa thì rất hăng hái, nhưng hễ nhắc đến quốc sự thì lại không muốn nghe. Lúc Trần Thắng và Ngô Quảng vừa khởi nghĩa, có người báo tin, Tần Nhị Thế rất không vui.
Ông ta gọi các quan cố vấn đến và hỏi: “Nghe nói có người tạo phản, các ngươi thấy sao?” Khi đó, có một vị học sĩ nói: “Có người phản loạn thì cần phái quân đi dẹp.” Tần Nhị Thế nghe xong thì lập tức trầm mặc, không nói gì.
Lúc này, có một người tên là Thúc Tôn Thông – vốn là một nho sinh – ông đứng dậy nói: “Tạo phản là điều không thể xảy ra. Có bậc Thiên tử thánh minh ở trên, thiên hạ đã trở thành một nhà, pháp luật lại nghiêm minh như thế, ai dám phản nghịch chứ? Những kẻ ấy chẳng qua là đám trộm cướp, chẳng có gì đáng ngại. Chỉ cần quan lại địa phương cho người bắt hết là xong. Xin Hoàng thượng cứ yên tâm.”
Tần Nhị Thế nghe xong thì rất vui, liền lần lượt hỏi những người khác có ý kiến ra sao. Có người nói là tạo phản, có người nói chỉ là bọn trộm cướp. Kết quả là, tất cả những ai nói đó là phản loạn đều bị Nhị Thế trừng phạt, còn Thúc Tôn Thông thì được trọng thưởng.
Thúc Tôn Thông đã nói một lời dối trá, ông đã nịnh hót để làm Hồ Hợi vui lòng, nhờ đó mà nhận được rất nhiều phần thưởng. Sau khi Tần Nhị Thế hồi cung, có người nói với Thúc Tôn Thông rằng: “Ông đọc sách thánh hiền của Khổng Tử, sao lại nói lời dối trá như vậy. Rõ ràng là sai mà ông vẫn nói!”
Thúc Tôn Thông vừa lau mồ hôi vừa đáp:
“Hôm nay tôi mà nói thật, thì cũng là ngày tôi mất mạng rồi!”
Sau đó, Thúc Tôn Thông gói hết phần thưởng mà Tần Nhị Thế ban cho vào một túi lớn, rồi bỏ trốn ngay trong đêm, vì ông biết chính quyền nhà Tần đã không còn hy vọng nữa.
Sau này, Thúc Tôn Thông đầu quân cho Lưu Bang, ông trở thành một trong những khai quốc công thần của nhà Hán, và là người thiết lập toàn bộ hệ thống lễ nghi cho triều đại này.
Chính sách “giấu đầu lòi đuôi” của Tần Nhị Thế chẳng thể ngăn nổi làn sóng khởi nghĩa nông dân. Lúc này, Chu Văn đã dẫn quân tiến vào cửa ải Hàm Cốc, sở hữu cả ngàn cỗ xe chiến và hơn mười vạn bộ binh. Liệu Trần Thắng và Ngô Quảng có thể tiêu diệt nhà Tần từ đây hay không? Chúng tôi sẽ kể tiếp trong những tập sau, xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại.
