Tập 2: Triều Nguyên chinh phục Cao Ly, chuẩn bị tiến đánh Nhật Bản

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 26/06/2026

Theo ghi chép trong Nguyên sử, từ vị tổ đời thứ mười của Thành Cát Tư Hãn là Bột Đoan Xoa Nhi, cho đến Thành Cát Tư Hãn, Oa Khoát Đài, Quý Do và Mông Kha, tổng cộng chỉ dùng ba quyển để ghi chép. Thế nhưng riêng phần “Thế Tổ bản kỷ” viết về Hốt Tất Liệt, thì đã có tới mười bốn quyển.

Miếu hiệu của Hốt Tất Liệt có chữ “Tổ”, điều đó cho thấy ông đã có công lao cực lớn, mang tính khai sáng đối với triều Nguyên. Dưới thời của ông, những người Mông Cổ tiến vào bản đồ Trung Quốc dần dần dung nhập vào trong cộng đồng văn hóa Trung Hoa.

Việc Nguyên Thế Tổ – Hốt Tất Liệt tiêu diệt Nam Tống là một đại sự mang ý nghĩa thời đại. Khi đọc lịch sử, chúng ta có cảm giác rằng Đại Đường là một vương triều thống nhất. Nhưng trên thực tế, sau loạn An Sử, Đại Đường đã rơi vào tình trạng phân liệt trên thực chất. Do các phiên trấn cát cứ, chính lệnh của triều đình trung ương không còn cách nào khống chế được địa phương.

Tình trạng “phiên trấn cát cứ” ấy kéo dài cho đến sau khi nhà Đường diệt vong, rồi hình thành nên cục diện Ngũ Đại Thập Quốc. Đó đương nhiên là một thời đại phân liệt. Sau Ngũ Đại Thập Quốc là Bắc Tống. Nói một cách nghiêm khắc, Bắc Tống cũng không phải là một vương triều thống nhất, bởi vì lãnh thổ phía bắc không vươn tới Vạn Lý Trường Thành; đồng thời ở khu vực tây nam Trung Quốc còn có nước Đại Lý.

Vào thời Tần Thủy Hoàng, khu vực nước Đại Lý vốn thuộc về nhà Tần. Tần Thủy Hoàng cũng từng chiếm những vùng đất gần Việt Nam, thiết lập các quận như Nam Hải quận, Tượng quận, v.v.; miền bắc Việt Nam khi ấy cũng nằm dưới sự quản lý của nhà Tần. Đến thời Ngũ Đại Thập Quốc, thì trong ‘Thập quốc’ có một nước rất yếu là Nam Hán. Khi này, người Việt do Ngô Quyền lãnh đạo, đã nổi dậy và đánh bại quân Nam Hán, mở ra thời kỳ độc lập.

Đến thời Bắc Tống, Việt Nam đã là một quốc gia độc lập. Sử quan Trung Hoa gọi là An Nam. Còn ở Việt Nam khi ấy là thời nhà Trần.

Trong toàn bộ cương vực Trung Quốc lúc bấy giờ, ngoài Bắc Tống ra, còn có nhiều nước cùng tồn tại như Liêu, Tây Hạ, Thổ Phồn, Đại Lý, v.v. Vì vậy, nói một cách nghiêm ngặt, Bắc Tống không phải là một vương triều thống nhất. Đương nhiên, đến thời Nam Tống thì cục diện phân liệt lại càng rõ rệt hơn. Ở phương bắc, vùng từ Hoài Hà trở lên, thậm chí có lúc từ phía bắc Trường Giang trở lên, đều bị nước Kim chiếm giữ.

Bởi vậy, kể từ sau loạn An Sử, Trung Quốc đã rơi vào trạng thái phân liệt. Từ năm 755, cho đến năm 1279 khi Nam Tống diệt vong — tức là khi Hốt Tất Liệt tái thống nhất Trung Quốc — đó lại là một thời kỳ đại phân liệt kéo dài tới hơn 500 năm. Thế nhưng, kinh tế Bắc Tống vô cùng phát triển, văn hóa cũng rực rỡ phồn thịnh, lãnh thổ mà họ chiếm giữ cũng không phải là nhỏ, nên các sử gia không nhấn mạnh đến tính chất phân liệt của giai đoạn này.

Trước khi Hốt Tất Liệt tiêu diệt Nam Tống, thiết kỵ Mông Cổ gần như đã quét ngang khắp lục địa Á Âu, tung hoành vạn dặm, hầu như đánh đâu thắng đó. Thế nhưng sau khi Nam Tống bị diệt, khí thế bành trướng của Mông Cổ về cơ bản đã dừng lại. Đương nhiên, họ vẫn còn phát động một số cuộc chiến đối ngoại, chỉ là quy mô không còn lớn như trước.

Sau đây, chúng tôi sẽ nói sơ lược về những cuộc chiến đối ngoại mà Hốt Tất Liệt phát động, trong giai đoạn trước và sau khi diệt Nam Tống, cho đến trước khi ông băng hà. Nói cách khác, đó chính là những cuộc chiến mở rộng lãnh thổ mà Đại Mông Cổ Đế quốc vẫn tiếp tục tiến hành trong thời kỳ này.

Các cuộc chiến của Hốt Tất Liệt đại thể có thể chia thành ba phương hướng.

  • Phía đông: tiến công Nhật Bản, liên tục chinh phạt, chiêu hàng và vỗ về các dân tộc quy phục ở khu vực Đông Hải và Đài Loan.
  • Trên bán đảo Trung Nam, nổ ra những cuộc chiến đối với Miến Điện, An Nam, Chiêm Thành, v.v.
  • Chiến tranh hướng xuống Nam Dương, cũng tức là cuộc chiến đối với Indonesia.

Khi nói đến cuộc chiến của triều Nguyên với Nhật Bản, trước hết chúng tôi sẽ phải nói qua về Hàn Quốc, bởi nếu muốn đánh Nhật Bản thì bắt buộc phải vượt qua eo biển Nhật Bản, cũng tức là phải đi qua Cao Ly.

Trong lịch sử, dân tộc Cao Ly nổi tiếng là cường hãn, có ý chí chống cự rất mạnh. Vào thời nhà Tùy, Tùy Dạng Đế đã ba lần đem quân chinh phạt Cao Ly, nhưng đều thất bại. Trái lại, những cuộc viễn chinh hao binh tốn của ấy còn làm dấy lên bạo loạn trong nước, cuối cùng trở thành một trong những nguyên nhân khiến nhà Tùy diệt vong.

Đến thời nhà Đường, Đường Thái Tông cũng từng thân chinh tiến đánh Cao Ly, nhưng vì đường xa quân mỏi, rốt cuộc cũng không giành được thắng lợi toàn cục. Ông chỉ chiếm được vài tòa thành ở vùng Liêu Đông, sau đó rút quân trở về.

Việc thống nhất toàn bộ bán đảo Triều Tiên là chuyện diễn ra vào thời Đường Cao Tông. Khi ấy, phải trải qua nỗ lực lâu dài của những danh tướng Đại Đường như Tiết Nhân Quý, Lý Tích, Khế Bật Hà Lực, Tô Định Phương, v.v., cuối cùng mới miễn cưỡng thống nhất được Cao Ly. Nhưng chẳng bao lâu sau, bán đảo Triều Tiên lại một lần nữa rơi vào cục diện phân liệt.

Về sau, đến cuối thời Đường, dân tộc Mạt Hạt bắt đầu trỗi dậy. Ban đầu, Mạt Hạt có bảy bộ lạc lớn, trong đó Hắc Thủy Mạt Hạt chính là tiền thân của tộc Nữ Chân sau này; đến thời Bắc Tống, họ lập nên nước Kim.

Dân tộc Mạt Hạt từng kiến lập một quốc gia gọi là nước Bột Hải. Khi ấy, Bột Hải cũng là một nước có cương vực rộng lớn, sức mạnh quân sự tương đối hùng hậu. Nước Bột Hải thôn tính phần phía bắc bán đảo Triều Tiên, còn phần phía nam bán đảo thì thuộc về nước Tân La. Như vậy, trên bán đảo Triều Tiên đã hình thành cục diện nam bắc phân chia.

Đến thời Ngũ Đại, hoàng đế Khiết Đan – Gia Luật A Bảo Cơ đã tiêu diệt nước Bột Hải. Sau đó, một người tên Vương Kiến đã thống nhất bán đảo, lập nên triều đình Cao Ly của họ Vương.

Ban đầu, triều đình Cao Ly họ Vương thần phục Bắc Tống. Về sau, đến thời Tống Chân Tông, Bắc Tống và Liêu ký hòa ước “Thiền Uyên chi minh”. Vì nước Liêu tương đối cường thịnh, lại ở gần Cao Ly hơn, nên sau hiệp ước này, Cao Ly chuyển sang xưng thần với nước Liêu. Đến khi nước Kim diệt nước Liêu, Cao Ly lại tiếp tục xưng thần với nước Kim.

Đến khi Oa Khoát Đài tiêu diệt nước Kim, Cao Ly không chịu thần phục Mông Cổ, mà vẫn đứng về phía nước Kim. Vì vậy, Đại hãn Oa Khoát Đài và Đại hãn Mông Kha đều đã nhiều lần đem quân thảo phạt Cao Ly.

Rốt cuộc, Cao Ly không thể chống nổi sức mạnh của vó ngựa Mông Cổ. Vì thế, quốc vương Cao Ly đã phái thái tử là Vương Trị sang Mông Cổ để làm con tin. Vào khoảng thời Nam Tống ở Trung Quốc, chính quyền họ Vương của Cao Ly dần dần rơi vào tay quyền thần họ Thôi.

Sau khi quốc vương Cao Ly qua đời, người Mông Cổ đưa Vương Trị trở về Cao Ly, sắc phong làm quốc vương. Vương Trị rất cảm kích sự trợ giúp của người Mông Cổ, bởi chính Mông Cổ đã giúp ông đoạt lại quyền lực từ tay họ Thôi, cho nên Vương Trị hết sức cung thuận đối với triều Nguyên.

Nhưng triều Nguyên cũng không để Cao Ly hoàn toàn độc lập, họ phái một đại thần tài năng đến đó, tên là Đạt Lỗ Hoa Xích. Đạt Lỗ Hoa Xích chính là quan hành chính tối cao ở địa phương. Như vậy, mặc dù trên danh nghĩa vẫn là quốc gia độc lập, nhưng trên thực tế Cao Ly đã biến thành một tỉnh của triều Nguyên.

Từ Cao Ly, vượt qua eo biển Nhật Bản là đến Nhật Bản. Vì vậy, triều đình Cao Ly liền khuyên Hốt Tất Liệt tiến hành viễn chinh, tiến đánh Nhật Bản.

Kỳ thực, từ thời Hán, Nhật Bản đã có rất nhiều mối liên hệ với Trung Quốc. Bởi vì từ phía tây nam đảo Kyushu đến eo biển phía đông nam Cao Ly, khoảng cách tương đối hẹp, thuyền bè qua lại cũng dễ dàng. Vì thế, từ lâu Nhật Bản vẫn thông qua Cao Ly để liên lạc với Trung Quốc.

Trước khi phát động cuộc viễn chinh tiến đánh Nhật Bản, Hốt Tất Liệt phái một số sứ thần đến Nhật Bản, hy vọng có thể dùng phương thức hòa bình để yêu cầu Nhật Bản đầu hàng. Lúc bấy giờ, Nhật Bản đang ở vào thời kỳ Mạc phủ Kamakura.

Từ cuối thế kỷ XII, Nhật Bản đã bước vào thời đại Mạc phủ. Mạc phủ là chính quyền quân nhân, cũng gọi là “chính quyền võ gia”. Hệ thống chính trị của các tướng quân Mạc phủ ban đầu do Minamoto no Yoritomo thiết lập, và kéo dài mãi cho đến cuộc “Minh Trị Duy Tân” năm 1867.

Về danh nghĩa, Thiên hoàng vẫn là nguyên thủ tối cao của Nhật Bản. Nhưng trên thực tế, quyền lực của tướng quân Mạc phủ lại vô cùng lớn. Thế mà có những lúc, ngay cả tướng quân Mạc phủ cũng bị chính thuộc hạ chế ngự. Điều này có phần giống với cục diện Trung Quốc thời Xuân Thu: thiên tử bị chư hầu kiềm chế, còn chư hầu lại bị các đại phu thao túng.

Khi Hốt Tất Liệt phái người đến Nhật Bản để bàn việc thiết lập quan hệ bang giao, người Nhật không đồng ý. Khi ấy, ảnh hưởng của Thiền tông ở Nhật Bản cũng rất lớn. Trong cách nhìn của Thiền tông Nhật Bản lúc bấy giờ, người Mông Cổ là ngoại tộc, văn hóa hoàn toàn khác biệt với họ, cho nên họ không chấp nhận thần phục.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Đại Minh vương triều.

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>