Hốt Tất Liệt nhận ra rằng, nếu chỉ dựa vào con đường hòa bình thì không thể thiết lập quan hệ với Nhật Bản, ông bèn quyết định dùng đến vũ lực. Năm 1274, Hốt Tất Liệt huy động thủy quân gồm 1 vạn 5 nghìn người, cùng với hơn 1 vạn 3 nghìn quân Cao Ly, với chín trăm chiến hạm, vượt biển tiến đánh Nhật Bản. Nhưng rồi quân Nguyên gặp bão lớn dữ dội ngay trên vùng biển Nhật Bản, tổn thất vô cùng nặng nề, cuối cùng chẳng thu được gì, phải đại bại mà quay về.
Đến tháng Giêng năm 1281, Nhật Bản chém đầu sứ giả của triều Nguyên, Hốt Tất Liệt một lần nữa phát động đại quân chinh phạt Nhật Bản.
Người Mông Cổ vốn rất giỏi kỵ binh, nhưng không giỏi thủy chiến, kỹ thuật đóng thuyền của họ không mạnh. Mặt khác, binh sĩ Mông Cổ lớn lên trên lưng ngựa, đã quen rong ruổi nơi thảo nguyên, nên đối với việc lênh đênh trên biển thì vô cùng xa lạ. Binh sĩ không quen sông nước, rất dễ say sóng, chưa giao chiến đã bị biển cả làm cho hao tổn tinh thần.
Nhưng đến năm 1279, sau khi Hốt Tất Liệt tiêu diệt Nam Tống, triều Nguyên thu được kỹ thuật hàng hải phát triển và lực lượng thủy quân hùng mạnh của Nam Tống. Vì vậy, trong cuộc viễn chinh Nhật Bản lần thứ hai, quân Nguyên huy động hơn 10 vạn người, cùng 9000 chiến thuyền, họ vượt biển từ Ninh Ba để tiến đánh Nhật Bản. Đây là cánh quân phía Nam. Còn cánh quân phía Bắc thì xuất phát từ Cao Ly. Hai cánh quân dự định hội sư tại Ưng Đảo của Nhật Bản, tức là một hòn đảo nhỏ nằm ở phía tây nam Kyushu ngày nay.
Cuối cùng, trong lần chinh phạt Nhật Bản thứ hai, quân Nguyên lại một lần nữa gặp phải cuồng phong dữ dội. Chiến thuyền bị đánh chìm, hơn 10 vạn quân tử nạn, cuối cùng lại chẳng thu được gì, phải ôm lấy một trận thảm bại mà quay về.
Trong cả hai lần ấy, Nhật Bản đều nhờ có bão lớn trợ giúp mà tránh được cuộc chiến với Mông Cổ. Người Nhật cho rằng đây là sự phù hộ của thần linh, họ gọi những trận cuồng phong ấy là “Thần phong”, tức là “ngọn gió của thần”. Đến thời Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản từng có một lực lượng gọi là “Đội đột kích Thần Phong”; tên gọi ấy chính là bắt nguồn từ điển cố lịch sử này.
Sau hai lần chinh chiến thất bại, Hốt Tất Liệt vẫn nhiều lần bàn bạc về việc tiếp tục thảo phạt Nhật Bản, nhưng vì chiến tranh giữa triều Nguyên và An Nam bùng nổ, nên việc chinh phạt Nhật Bản rốt cuộc bị gác lại.
Mông Cổ chuẩn bị tiến đánh An Nam
An Nam, chính là Việt Nam ngày nay. Vào cuối thời Đường, đã xảy ra “loạn Nam Chiếu”. Nam Chiếu nằm ở vùng Vân Nam, mà phía nam của Vân Nam chính là An Nam. Cũng chính vào thời kỳ ấy, An Nam đã tách ra độc lập. Mặc dù trên danh nghĩa, An Nam khi ấy vẫn là một phần của nhà Đường, nhưng tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ đã hoàn toàn kiểm soát khu vực này, giống như một vùng đất độc lập.
Đến thời Ngũ đại thập quốc, Trung Hoa chìm trong chiến loạn liên miên, lãnh thổ bị chia năm xẻ bảy. Khi ấy trong mười nước nhỏ, có một nước là Nam Hán. Đến năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán tại Bạch Đằng, và xưng vương vào năm 939. Khi này, An Nam đã hoàn toàn tách biệt khỏi Trung Quốc, bắt đầu có sự độc lập về quân sự và chính trị.
Sau này, giữa An Nam và Bắc Tống cũng không tồn tại cái gọi là “quan hệ tông phiên”, tức không phải quan hệ giữa thiên triều và nước chư hầu, mà là một quốc gia hoàn toàn độc lập.
Đến khi Nam Tống sắp diệt vong, thì ở An Nam đang là thời nhà Trần. Các vua An Nam học theo bố trí chính trị của Trung Hoa, đặt tên nước là Đại Việt. Khi vua mất, thì đặt miếu hiệu, thụy hiệu theo kiểu ‘hoàng đế’ giống như Trung Hoa. Ví dụ như: Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông. Và cũng có hệ thống sử quan để ghi chép lịch sử. Thế nhưng, Trung Hoa chưa từng công nhận những quốc hiệu và thụy hiệu đó. Mặc dù họ đã công nhận đối với các nước như Đại Lý, Tây Hạ, Liêu, Kim,… nhưng chưa từng công nhận quốc hiệu Đại Việt, các sử quan vẫn gọi là An Nam, các vua An Nam vẫn gọi bằng tên trực tiếp. Việc sử dụng quốc hiệu và thụy hiệu của nhà Trần chỉ diễn ra trong nội bộ mà thôi.
Ba lần chiến thắng Mông Nguyên
Khi Đại hãn Mông Kha muốn tiêu diệt Nam Tống, ông phái Hốt Tất Liệt và Ngột Lương Hợp Thai tiên tiến đánh nước Đại Lý, rồi dự tính mượn đường vòng từ An Nam để tấn công Nam Tống.
Sau khi diệt nước Đại Lý, Ngột Lương Hợp Thai tiếp tục tiến quân xuống phương nam, rồi đánh chiếm kinh đô Thăng Long, tức là Hà Nội của Việt Nam ngày nay. Khi ấy đang vào thời nhà Trần.
Nhà Trần nhanh chóng thất thủ, đô thành bị phá tan hoang. Quốc vương Trần Nhật Cảnh chạy trốn ra biển. Người Mông Cổ đứng trước biển cả mênh mông, không thể tiếp tục truy kích, chỉ biết nhìn sóng nước mà than thở bất lực. Sau 9 ngày, họ bị cái nóng ở phương Nam làm cho khốn đốn, vì người Mông Cổ đã quen với khí lạnh ở phương Bắc, cuối cùng phải rút quân trở về.
Sau khi quân Mông Cổ rút đi, Trần Nhật Cảnh quay lại đô thành, truyền ngôi cho con trai là Trần Quang Bính. Trần Quang Bính lên ngôi, lập tức phái sứ giả sang Trung Quốc để chủ động nghị hòa. Từ đó, nhà Trần xưng thần với triều Nguyên, dâng cống phẩm, nộp thuế cho Mông Cổ. Người Mông Cổ cũng phái quan Đạt Lỗ Hoa Xích đến để quản lý chính sự của An Nam (giống như với Cao Ly khi trước).
Với tư cách là quốc vương, Trần Quang Bính không hề thích địa vị ấy. Về sau, triều Nguyên phát sinh chiến tranh với một nước nhỏ ở phía nam nhà Trần, gọi là Chiêm Thành. Triều đình nhà Nguyên ra lệnh trưng binh từ An Nam. Thế nhưng Trần Quang Bính vốn đã bất mãn với việc triều Nguyên can thiệp vào nội chính của mình; nay lại còn yêu cầu xuất binh, ông liền không tuân chiếu, đồng thời bắt đầu tăng cường phòng ngự nơi biên cương. Nguyên Thế Tổ – Hốt Tất Liệt nổi giận, quyết định đem quân thảo phạt An Nam.
Nếu nói rằng triều Nguyên chinh phạt Nhật Bản thất bại vì gặp bão, thì cuộc chinh phạt An Nam lại là bại trước khí hậu nóng bức, núi rừng rậm rạp và chướng khí nơi phương nam.
Người Mông Cổ vốn đã quen với khí hậu se lạnh nơi thảo nguyên, khi xuống đến An Nam thì nóng không chịu được. Khi ấy, trong quân Nguyên bùng phát dịch bệnh, từng đoàn quan quân lần lượt ngã xuống. Lại thêm đường xá hiểm trở, giao thông bất tiện, việc vận chuyển lương thảo trở nên vô cùng gian nan. Khi người Việt thua trận thì họ lập tức rút chạy ra biển; đợi đến khi quân Nguyên cạn lương, họ lại quay về và mở các cuộc tập kích.
Người Việt dựa vào địa lợi, mai phục ở những nơi hiểm yếu, dùng tên độc bắn ra, khiến quân Nguyên phải chịu tổn thất vô cùng thảm trọng. Cuối cùng, cuộc chinh phạt An Nam của triều Nguyên đã kết thúc bằng một trận thảm bại, phải rút quân trở về.
Bên phía An Nam, các vua Trần cũng hiểu rằng nếu thật sự đối đầu lâu dài với triều Nguyên thì cuối cùng sẽ không có kết quả tốt đẹp, rất có thể sẽ ‘lưỡng bại câu thương’. Dẫu sao, triều Nguyên vẫn là một đế quốc rộng lớn, quốc lực cường thịnh. Vì thế, ngay sau khi giành thắng lợi, vua Trần lập tức phái sứ giả đến, chủ động tạ lỗi với triều Nguyên, nhờ đó quan hệ hoàn hoãn giữa hai nước tạm thời được khôi phục.
Triều Nguyên tiến đánh Miến Điện
Trên bán đảo Trung Nam, ngoài việc giao chiến với Việt Nam, Hốt Tất Liệt còn đem quân thảo phạt Miến Điện. Miến Điện khi ấy cũng là một quốc gia khá lớn. Lúc bấy giờ, lãnh thổ Miến Điện còn chiếm giữ cả một phần đất của nước Lào ngày nay — cùng một phần đất của Thái Lan, khi ấy gọi là Xiêm La.
Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến Miến Điện là tại vùng Bảo Sơn, Vân Nam ngày nay, có một quốc gia gọi là Kim Xỉ Quốc. Kim Xỉ Quốc không lớn, họ thường xuyên bị Miến Điện lấn hiếp. Quốc gia này vốn đã xưng thần với triều Nguyên, cho nên sau khi bị Miến Điện bắt nạt, họ đã cầu xin triều Nguyên che chở. Vì vậy, Hốt Tất Liệt mới phát binh tiến đánh Miến Điện.
Đó là vào năm 1277. Khi ấy Nam Tống vẫn chưa diệt vong, nên binh lực chủ yếu của Hốt Tất Liệt vẫn đặt ở vùng phương nam Trung Quốc. Bởi vậy, ông chỉ phái một đội quân rất nhỏ, khoảng 3800 người, đi đánh Miến Điện. Đương nhiên, bởi vì binh lực quá nhỏ, cuối cùng việc ấy cũng chẳng đi đến đâu. Bởi ở một vùng đất hoàn toàn xa lạ, nếu chỉ phái một lực lượng quá ít ỏi, thì khó lòng thu được kết quả gì lớn.
Đến năm 1283, Hốt Tất Liệt huy động 4 vạn quân, lần thứ hai tiến đánh Miến Điện, và lần này đã đánh bại được Miến Điện. Sau đó, Miến Điện cũng trở thành một phiên quốc của triều Nguyên. Về sau, Xiêm La cũng quy thuận triều Nguyên, trở thành phiên quốc.
Ở vùng thượng du sông Mekong ngày nay, phía nam Tây Song Bản Nạp, có một tiểu quốc gọi là Bát Bách Tức Phụ. Trong thời gian triều Nguyên giao chiến với Miến Điện, Bát Bách Tức Phụ từng giúp đỡ Miến Điện. Vậy nên, nhà Nguyên đã đem quân thảo phạt nước này, nhưng vùng núi phía nam Vân Nam có đường xá gập ghềnh, địa hình phức tạp, việc vận chuyển lương thảo vô cùng gian nan. Vì thế, triều Nguyên đã hao phí rất nhiều khí lực, rốt cuộc vẫn không thu được kết quả rõ rệt, rồi việc ấy cũng đành bỏ dở.
Hốt Tất Liệt còn từng có ý định chiếm lĩnh đảo Đài Loan. Khi ấy, Đài Loan được gọi là Lưu Cầu, nhưng rồi một số quan lại đã khuyên ngăn. Sau đó, Hốt Tất Liệt chỉ phái sứ giả đến Lưu Cầu, muốn chiêu dụ cư dân bản địa nơi ấy. Sứ giả đi đến đảo Bành Hồ, chiêu dụ được khoảng mấy trăm hộ dân làng, rồi quay trở về.
Tiến đánh đảo Java (Indonesia)
Đối với vùng Nam Dương, Hốt Tất Liệt còn phát động một cuộc chiến nữa. Đây cũng là cuộc chiến cuối cùng trong thời gian ông làm hoàng đế: đó là cuộc viễn chinh đảo Java của Indonesia, tức là hòn đảo nơi Jakarta ngày nay tọa lạc.
Trên đảo Java lúc bấy giờ không chỉ có một quốc gia. Trong đó có một nước gọi là Tumapel. Hốt Tất Liệt từng phái sứ thần đến Tumapel, hy vọng quốc vương nước này chịu quy hàng. Nhưng kết quả, vị quốc vương ấy không những không đầu hàng, mà còn làm nhục sứ thần của triều Nguyên.
Hốt Tất Liệt vô cùng tức giận, ông phái đại quân 2 vạn người, cùng với 1000 chiến hạm, vượt biển tiến về phương nam. Đến năm 1293, quân Nguyên đổ bộ lên đảo Java. Khi quân Nguyên tiến đến Tumapel, thì Tumapel lúc ấy đang giao chiến với nước láng giềng là Kediri (còn gọi là Gelang). Quốc vương Tumapel đã tử trận trong cuộc chiến ấy.
Người con rể của quốc vương thấy quân Mông Cổ đã đánh tới, mà phía mình lại không thắng nổi Kediri, nên vội quy hàng triều Nguyên, cúi đầu xưng thần, đồng thời thỉnh cầu triều Nguyên giúp mình tiêu diệt Kediri. Triều Nguyên chấp thuận lời cầu viện ấy, đem binh lực giúp Tumapel đánh bại Kediri. Nhưng không ngờ, người này lại lấy oán báo ân: sau khi nhờ sức quân Nguyên để đạt được mục đích, hắn đột nhiên phản bội, quay sang tập kích quân đội triều Nguyên.
Khi này, Quân Nguyên vốn đã là đội quân viễn chinh đường xa mệt mỏi, lại phải tác chiến nơi đất khách quê người, cho nên rốt cuộc cũng chẳng chiếm được lợi thế gì. Họ đành vội vã rút quân, trên đường rút lui cũng tổn thất không ít binh sĩ. Vì vậy, sau khi tiêu diệt Nam Tống, bước chân bành trướng của triều Nguyên về cơ bản cũng dần dừng lại.
Chúng ta biết rằng, muốn một quốc gia được thịnh trị lâu dài, muốn thiên hạ được yên ổn bền vững, thì không thể chỉ dựa vào vũ lực. Ngoài binh lực trên chiến trường, còn phải có rất nhiều biện pháp về chính trị, kinh tế và văn hóa. Ở những phương diện ấy, Hốt Tất Liệt quả thực đã đưa ra rất nhiều biện pháp mang tính khai sáng, đồng thời cũng để lại ảnh hưởng khá lớn trong lịch sử.
Cùng lúc đó, cương vực của Đại Mông Cổ Đế Quốc trải dài ngang qua cả Âu Á, khiến sự giao lưu giữa phương Đông và phương Tây được thông suốt. Thương nhân Venice là Marco Polo đã đến Trung Quốc vào chính thời kỳ này. Ông đã ghi lại sự giàu có và phồn thịnh của Đại Nguyên trong cuốn du ký của mình, từ đó khơi dậy niềm ngưỡng vọng của rất nhiều người châu Âu đối với Trung Quốc.

