Dưới sự giúp đỡ của Lệ Thực Kỳ, một tay bợm rượu ở Cao Dương, Lưu Bang đã chiếm được Trần Lưu, có được lương thảo tiếp tế đầy đủ. Hoàn toàn không hề phải chịu cảnh đập nồi chìm thuyền như Hạng Vũ. Sau đó ông lại đánh hạ Uyển Thành, phong cho quận thủ Nam Dương – người đã đầu hàng – làm Ân hầu, dùng danh nghĩa này để kêu gọi các quan lại của triều Tần ra hàng. Quả nhiên từ đó, quân Tần nghe danh liền đầu hàng, Lưu Bang gần như không gặp phải sự kháng cự nào lớn, thuận lợi tiến binh đến Vũ Quan, sắp sửa tấn công Hàm Dương.
Khi Lưu Bang tiến vào Vũ Quan, đó đã là tháng Bảy năm 207 trước Công nguyên. Quân đội của Chương Hàm lúc này đã đầu hàng Hạng Vũ. Nói cách khác, từ tháng nhuận Chín năm 208 TCN, bắt đầu tiến quân về phía Tây, Lưu Bang chỉ mất mười bốn tháng để vượt qua các ải, gần như không gặp sự kháng cự lớn nào mà tiến thẳng vào Vũ Quan.
Lúc này, tể tướng Lý Tư đã bị Triệu Cao hãm hại mà chết. Triệu Cao lên làm tể tướng, còn Tần Nhị Thế vẫn tiếp tục chìm đắm trong yến tiệc và lạc thú. Thiên hạ đã chia lìa, lòng người ly tán, nhưng Tần Nhị Thế chẳng hay biết, cũng chẳng đoái hoài. Chỉ có Triệu Cao là cảm thấy nguy cơ cận kề, bởi khởi nghĩa đã nổ ra khắp nơi, sớm muộn gì hoàng đế cũng sẽ phát hiện, mà khi phát hiện thì chính hắn sẽ là người đầu tiên gặp nạn.
Vì thế, Triệu Cao đã làm một việc nổi tiếng muôn đời, cũng từ đó mà lưu lại một thành ngữ là: “Chỉ hươu bảo ngựa” (指鹿為馬).
Chuyện là, Triệu Cao muốn biết trong triều đình nhà Tần, ai là kẻ một lòng theo hắn, ai là người trung thành với Nhị Thế. Vào lúc lên triều, hắn sai người dắt một con hươu lên điện, đến trước mặt hoàng đế, rồi tâu rằng:
— Bệ hạ xem, thần đã tìm được cho bệ hạ một con tuấn mã.
Tần Nhị Thế nhìn thấy thì sửng sốt, nói:
— Thừa tướng đùa chăng? Đây rõ ràng là hươu, sao lại nói là ngựa?
Triệu Cao nghiêm mặt nói:
— Đây là ngựa!
Rồi quay sang hỏi các văn võ bá quan:
— Các vị thấy sao, đây là hươu hay là ngựa?
Có người sợ Triệu Cao, liền gật đầu phụ họa: “Ngài nói ngựa thì là ngựa. Ngài bảo nó là cá sấu chúng tôi cũng đồng tình.”
Có người sợ hãi nhưng không muốn nói dối, bèn cúi đầu im lặng.
Còn một số ít người dám nói thẳng rằng đây là hươu, thì đều bị Triệu Cao xử lý hết.
Chính nhờ trò “chỉ hươu bảo ngựa”, Triệu Cao đã loại bỏ hoàn toàn những kẻ trung nghĩa và củng cố quyền lực cho bản thân.
Vì có quá nhiều người nói đó là ngựa, Tần Nhị Thế bắt đầu hoang mang, bởi chính mắt ông ta thấy rõ đó là hươu, nhưng lại không dám tin vào chính mình nữa. Ông thầm nghĩ: “Chẳng lẽ ta nhìn lầm? Chẳng lẽ ta bị rối loạn nhận thức rồi sao?”
Triệu Cao liền nhân cơ hội nói:
— Thần biết nguyên nhân. Gần đây bệ hạ khi cúng tế tổ tiên và quỷ thần, đã không đủ thành kính, cho nên mới bị quỷ thần làm cho tâm trí hoang mang. Thần đề nghị bệ hạ nên ăn chay giới tịnh một thời gian.
Nhị Thế hỏi:
— Vậy đi đâu để giới tịnh?
Triệu Cao thưa:
— Thượng Lâm Uyển là nơi thích hợp.
Thượng Lâm Uyển vốn là nơi săn bắn của Tần Nhị Thế. Ông ta bèn đến đó, nhưng không phải để tĩnh tu, mà hằng ngày đều đi săn, vẫn hưởng lạc như cũ. Có lần, một người dân vô tình đi lạc vào Thượng Lâm Uyển, Tần Nhị Thế đích thân giương cung bắn chết người này ngay tại chỗ.
Triệu Cao bèn khuyên:
— Thiên tử không thể tùy tiện giết người, nếu không thì quỷ thần cũng sẽ không phù hộ nữa. Thần kiến nghị bệ hạ không nên ở lại Thượng Lâm Uyển, mà hãy chuyển đến Vọng Di cung.
Thế là Triệu Cao lại một lần nữa lừa Tần Nhị Thế chuyển đến sống trong Vọng Di cung – một nơi gần như bị cô lập khỏi triều chính.
Khi Tần Nhị Thế dời đến Vọng Di cung, quân đội của Lưu Bang đã vượt qua Vũ Quan. Lưu Bang cũng bắt đầu phái sứ giả đến tiếp xúc với chính quyền nhà Tần, có lẽ là để kêu gọi đầu hàng. Tần Nhị Thế rốt cuộc cũng tỉnh ngộ, liền sai người khiển trách Triệu Cao rằng:
— Chuyện gì đang xảy ra vậy? Trước đây, chẳng phải ngươi luôn nói rằng quân đạo tặc Quan Đông chẳng có gì đáng ngại sao? Tại sao bây giờ bọn chúng đã đến tận cửa cung điện rồi?
Triệu Cao vô cùng hoảng sợ. Hắn thầm nghĩ: Nếu một ngày nào đó Nhị Thế nổi giận muốn giết ta thì sao?
Vì vậy, hắn bí mật bàn bạc với hai tâm phúc thân tín. Một người là em trai hắn – Triệu Thành, người còn lại là con rể của hắn – Diêm Lạc, lúc bấy giờ đang giữ chức Hàm Dương lệnh, tương đương với thị trưởng kinh thành.
Sau khi thương nghị, bọn chúng đi đến quyết định:
— Chi bằng nhân lúc thuận tiện thì giết luôn Tần Nhị Thế.
Thế rồi Diêm Lạc dẫn quân kéo đến dưới chân Vọng Di cung. Lúc ấy, người trấn thủ cửa cung có chức danh là Vệ lệnh bộc xạ, liền bước ra quát hỏi:
— Các ngươi là ai?
Bên kia đáp:
— Ta là Hàm Dương lệnh Diêm Lạc, nghe nói trong cung có đạo tặc, đến đây để bắt giặc.
Vệ lệnh bộc xạ liền nghiêm mặt nói:
— Nơi này là nơi cấm quân triều đình canh giữ, phụ trách an nguy của Hoàng thượng, làm sao lại có đạo tặc? Các người lập tức lui binh!
Diêm Lạc thấy y không chịu nhường đường, bèn ra hiệu bằng ánh mắt, lập tức quân lính xông lên, chém Vệ lệnh bộc xạ, rồi tràn vào trong cung.
Sau khi xông vào Vọng Di cung, bên trong có một số lang quan, vốn là quan viên phụ trách bảo vệ hoàng đế. Còn lại là hoạn quan, những người hầu cận thân cận bên vua. Khi thấy Diêm Lạc dẫn quân xông vào, có kẻ chạy trốn, có người chống cự. Những ai dám chiến đấu đều bị chém sạch.
Quân của Diêm Lạc áp sát điện lớn nơi Tần Nhị Thế đang ngự. Chính tay Diêm Lạc dùng cung bắn tên về phía vua, mũi tên cắm phập vào màn trướng bên cạnh ngai vàng. Tần Nhị Thế vô cùng tức giận, quát lệnh cho hoạn quan bên cạnh đứng lên chống trả. Nhưng bọn họ nào dám ra trận? Dù sao, đối phương là quân đội chính quy, còn bọn họ chỉ là người hầu. Đám hoạn quan đồng loạt bỏ chạy.
Tần Nhị Thế cũng phải tháo chạy, lập tức trốn vào trong đám người hỗn loạn. Nhưng trong lúc hỗn loạn, tất cả người hầu đều tản ra, họ vội vã tránh xa Hồ Hợi. Duy chỉ còn một tiểu hoạn quan chạy theo.
Tần Nhị Thế vừa sợ vừa giận, ngoảnh lại quát hỏi:
— Triệu Cao có ý mưu phản, ngươi sao không nói sớm với ta?
Tiểu hoạn quan đáp:
— Chính vì không nói, nên thần mới sống đến hôm nay. Nếu thần dám nói ra từ sớm, thì đã bị giết từ lâu rồi!
Tần Nhị Thế lúc này đã cùng đường, thân cô thế cô, bị chính người của mình phản bội, không còn ai để dựa. Quân đội của Diêm Lạc cuối cùng cũng bao vây được hắn.
Diêm Lạc nói với Tần Nhị Thế rằng:
— Thiên hạ nay đã phản Tần, ngài tự mình tìm lấy một kết cục đi.
Tần Nhị Thế cầu xin:
— Nếu vậy, trẫm không làm hoàng đế nữa, có thể cho trẫm một quận, phong làm vương cũng được.
Diêm Lạc đáp:
— Không được.
Nhị Thế lại nói:
— Vậy thì phong trẫm làm vạn hộ hầu, cũng là phúc lớn rồi.
Diêm Lạc vẫn nói:
— Không thể được.
Nhị Thế nói tiếp:
— Vậy… trẫm làm một thường dân cũng được, xin tha mạng.
Diêm Lạc lạnh lùng nói:
— Ta phụng mệnh tể tướng, vì thiên hạ mà đến đây giết ngươi. Nói nhiều vô ích!
Tần Nhị Thế không còn đường sống, đành phải tự sát.
Sau khi Tần Nhị Thế tự sát, Triệu Cao nảy sinh dã tâm muốn tự xưng làm hoàng đế. Hắn mang theo ngọc tỷ truyền quốc định bước lên chính điện để đăng cơ, nhưng khi gần tiến vào, đại điện bỗng dưng có động đất nhẹ, chấn động đến ba lần. Các đại thần đứng bên cạnh đều cúi đầu im lặng, không ai chúc mừng hay tỏ ý thuận theo.
Triệu Cao lúc ấy cảm thấy:
— “Ý trời không thuận, bề tôi không cho.”
Ý là thiên mệnh không dành cho hắn, còn các đại thần thì cũng không thuận ý để hắn xưng đế.
Không còn cách nào khác, Triệu Cao buộc phải lập Tử Anh, con trai của anh trai Tần Nhị Thế, làm người kế vị. Nhưng lần này, không còn gọi là “hoàng đế” nữa.
Triệu Cao nói:
— Khi xưa, Tần thống nhất thiên hạ, mới có thể xưng là hoàng đế. Nay thiên hạ đã phân rã, đất nước chỉ còn lại phần lãnh thổ như thời Chiến Quốc, vậy thì không nên xưng đế nữa. Chúng ta chỉ nên xưng vương.
Thế là Tử Anh được lập làm “Tần Vương”, chấm dứt danh xưng hoàng đế của nhà Tần.
Tử Anh vốn hiểu rõ con người Triệu Cao là kẻ gian ác tàn độc, trong lòng đã có ý muốn trừ khử.
Theo nghi lễ, trước khi lên ngôi, Tử Anh phải trai giới năm ngày, rồi vào tông miếu nhận ngọc tỷ, sau đó mới chính thức đăng cơ. Nhưng tới ngày đó, Tử Anh cố ý không đến tông miếu. Triệu Cao với tư cách tể tướng, buộc phải đích thân đến thỉnh mời.
Khi Triệu Cao vừa bước vào, Tử Anh đã sớm bố trí sẵn người phục kích, lập tức xông ra chém gục Triệu Cao ngay tại chỗ. Sau đó, Tử Anh chính thức lên ngôi, trở thành Tần Vương, chấm dứt mọi quyền lực còn sót lại của Triệu Cao.
