Năm 1260, Hốt Tất Liệt đăng cơ, chính thức trở thành hoàng đế của Đại Mông Cổ Đế quốc. Đến năm 1271, Hốt Tất Liệt tiếp thu kiến nghị của Lưu Bỉnh Trung, lấy ý từ câu “Đại tai Càn Nguyên” trong Kinh Dịch, đặt quốc hiệu là Đại Nguyên. “Đại tai Càn Nguyên” nghĩa là câu cảm thán để ca ngợi sự vĩ đại của Trời (tức là quẻ Càn), “Nguyên” tức là căn nguyên khởi thủy. ‘Tai’ là một từ mang nghĩa cảm thán trong văn cổ, có nghĩa là “lớn lao thay”, “vĩ đại thay”.
Nguyên Thế Tổ – Hốt Tất Liệt tại vị trong 34 năm. Vậy ngoài việc tiêu diệt Nam Tống và Đại Lý, trên phương diện kiến thiết quốc gia, Hốt Tất Liệt cũng để lại những ảnh hưởng rất sâu sắc.
Trong quá khứ, quốc hiệu của mỗi triều đại Trung Hoa thường đều được xác lập dựa trên đất phong hoặc tước hiệu của hoàng đế khai quốc. Chẳng hạn, Lưu Bang từng được phong làm Hán vương. Khi ấy, ông được Hạng Vũ phong đến vùng Hán Trung, vì vậy quốc hiệu do ông lập nên là ‘Hán’. Dương Kiên từng được phong làm Tùy vương, nên triều đại mà ông sáng lập lấy quốc hiệu là Tùy. Lý Uyên từng được phong làm Đường vương, quốc hiệu do ông dựng nên là Đường. Triệu Khuông Dận từng được phong làm Quy Đức quân tiết độ sứ ở Tống Châu, vì vậy quốc hiệu của ông là Tống.
Hốt Tất Liệt thì chưa từng nhận bất kỳ sự sắc phong nào từ hoàng đế của vùng Hán địa. Ông không có tước vị, không có phong hiệu, cũng không có đất phong tại Hán địa. Vì thế, quốc hiệu của ông được lấy từ một câu trong Chu Dịch là: “Đại tai Càn Nguyên”. Trong Chu Dịch còn có một câu là: “Chí tai Càn Nguyên”, do đó niên hiệu đầu tiên được đặt là Chí Nguyên.
Việc đặt quốc hiệu và niên hiệu nói lên điều gì? Nó cho thấy Hốt Tất Liệt đã bắt đầu bước vào quá trình Hán hóa toàn diện. Rất nhiều biện pháp mà ông thực thi đều là những việc mà các hoàng đế Hán địa thường làm.
Chẳng hạn, Hốt Tất Liệt truy tôn miếu hiệu và thụy hiệu cho tổ tiên mình. Ông truy tôn Thành Cát Tư Hãn miếu hiệu là Thái Tổ, Oa Khoát Đài có miếu hiệu là Thái Tông. Phụ thân của ông là Đà Lôi, tuy chưa từng làm hoàng đế, cũng được truy tôn miếu hiệu là Duệ Tông. Đại hãn Mông Kha được tôn là Hiến Tông. Còn bản thân Hốt Tất Liệt là Nguyên Thế Tổ, đương nhiên miếu hiệu Thế Tổ là do người đời sau truy tôn sau khi ông qua đời.
Đồng thời, Hốt Tất Liệt cũng chế định một hệ thống nghi lễ tế tự tổ tiên vô cùng long trọng. Mà việc tế tổ, thờ phụng tổ tiên, vốn chính là một đặc điểm rất quan trọng trong văn hóa Trung Hoa. Thái miếu mà ông dựng lên để thờ tổ tiên được đặt ngay tại kinh thành, tức Đại Đô của triều Nguyên. Đại Đô chính là Bắc Kinh ngày nay.
Chúng tôi nói “Bắc Kinh” thực ra là một cách gọi khá khái quát, bởi vì diện tích Bắc Kinh hiện nay rất rộng lớn. Từ rất sớm, ngay vào thời Xuân Thu, nước Yên đã từng lấy vùng Bắc Kinh làm đô thành, vì vậy nơi này về sau còn được gọi là Yên Kinh.
Đến thời nhà Tùy, vùng đất Bắc Kinh này được gọi là Trác Quận; sang thời Đường thì gọi là U Châu. Vào thời Ngũ Đại Thập Quốc, do người Hán để mất vùng Yên Vân, nên Bắc Kinh rơi vào tay nước Liêu, về sau trở thành Nam Kinh Tích Tân phủ của nhà Liêu. Triều Liêu có đến mấy kinh thành. Thành Bắc Kinh ngày nay, vào thời Liêu chính là Nam Kinh – Tích Tân phủ. Về sau, nơi này lại trở thành Trung Đô – Đại Hưng phủ của nước Kim.
Tuy nhiên, kinh đô của Liêu và Kim khi ấy không nằm ở khu vực Cố Cung ngày nay, mà ở vùng Tây Thành và Phong Đài hiện nay của Bắc Kinh, tức là hơi lệch về phía nam. Khi đó, điểm cực bắc của kinh thành Liêu và Kim nằm cách phố Phục Hưng Môn Nội đại nhai ngày nay khoảng hơn 500 mét về phía nam; nơi ấy chính là tường thành phía bắc của Trung Đô triều Kim.
Đến thời Nguyên, khi xây dựng kinh đô mới, triều đình đã bỏ khu vực đô thành cũ của nước Liêu và Kim, rồi dời toàn bộ kinh thành lên phía bắc. Trung tâm của kinh thành triều Nguyên nằm tại Quỳnh Hoa đảo trong công viên Bắc Hải ngày nay. Từ đó, kinh thành kéo dài về phía nam đến tận Trường An nhai, phía đông và phía tây vươn tới khu vực Nhị Hoàn hiện nay, còn phía bắc thì đến đường Học Viện Nam lộ thuộc khu Hải Điến ngày nay.
Hốt Tất Liệt có hai kinh đô. Ngoài Đại Đô, ông còn có một nơi gọi là Thượng Đô. Thượng Đô nằm ở huyện Đa Luân, thuộc Nội Mông Cổ ngày nay, là nơi hoàng đế dùng để tránh nóng vào mùa hè.
Dù sao thì họ cũng là người phương bắc. Đối với Hốt Tất Liệt mà nói, Bắc Kinh đã là nơi khá xa về phía nam rồi. Vì vậy, mỗi năm vào mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, ông thường ở Đại Đô, tức là Bắc Kinh. Đến đầu xuân và mùa hạ, ông lại xuất hành đi săn, cuộc săn thường kéo dài ba tháng.
Sau khi săn bắn xong, ông đến Thượng Đô, tức vùng Đa Luân, để tránh nóng thêm ba tháng nữa. Vì vậy, trong một năm, Hốt Tất Liệt thường ở phía nam khoảng nửa năm, đi săn ba tháng, rồi lại lên Thượng Đô để tránh nóng ba tháng.
Marco Polo từng mô tả cảnh Hốt Tất Liệt tuần du săn bắn, khí thế vô cùng hoành tráng. Khi ấy, Hốt Tất Liệt ngồi trong một kiến trúc giống như cung điện, được dựng trên lưng bốn con voi lớn. Theo hầu xung quanh là đội ngũ thị tùng lên đến hàng vạn người, quy mô cực kỳ hưng thịnh, chẳng khác nào một đoàn thiên tử tuần du giữa thảo nguyên và sơn hà.
Ngoài việc đặt quốc hiệu, tu sửa tông miếu, Hốt Tất Liệt còn bổ nhiệm một vị quan tên là Quách Thủ Kính, giao cho ông phụ trách việc tu chỉnh lịch pháp. Quách Thủ Kính là người Hình Đài, ông là một nhà thiên văn học, nhà thủy lợi học và nhà toán học. Quách Thủ Kính là học trò của Lưu Bỉnh Trung – người từng giúp Hốt Tất Liệt thiết kế Nguyên Đại Đô.
Quách Thủ Kính chế tạo ra một bộ dụng cụ quan trắc thiên văn vô cùng tinh mật, rồi thiết lập 27 trạm quan trắc trên toàn quốc, dùng để quan sát thiên tượng. Bộ lịch pháp sau khi ông tu chỉnh được gọi là Thụ Thời lịch, có độ chính xác rất cao. Quách Thủ Kính tính toán thời gian Trái Đất quay một vòng quanh Mặt Trời, cũng như thời gian Mặt Trăng quay một vòng quanh Trái Đất. Kết quả đo đạc của ông về cơ bản khá tương đồng với dương lịch hiện nay, nhưng lại ra đời sớm hơn dương lịch hiện đại đến ba trăm năm. Vì vậy, Quách Thủ Kính có thành tựu rất lớn trong lĩnh vực thiên văn học.
Ông chia một năm thành 24 tiết khí. Nếu trong một tháng nào đó không vượt qua hai tiết khí, thì tháng ấy sẽ được đặt làm tháng nhuận một lần. Xét đến công lao mà ông để lại trong lịch sử, Liên đoàn Thiên văn Quốc tế đã lấy tên Quách Thủ Kính đặt cho một miệng núi hình vòng trên Mặt Trăng, gọi là núi Quách Thủ Kính (tiếng Anh là Kuo Shou Ching).
Hốt Tất Liệt còn tiến hành việc chế định văn tự và xác lập quốc giáo. Trước kia, người Mông Cổ vốn chưa có hệ thống chữ viết riêng. Những việc như truyền đạt mệnh lệnh phần lớn đều dựa vào khẩu truyền; có khi còn được biên thành ca khúc để hát lên, nhờ đó mà ghi nhớ và lưu truyền.
Về sau, sau khi Thành Cát Tư Hãn tiêu diệt bộ Nãi Man, ông thu được một viên thư ký của Thái Dương Hãn. Người này tên là Tháp Tháp Thống A. Tháp Tháp Thống A đã dùng chữ Duy Ngô Nhĩ làm văn tự cho người Mông Cổ. Từ đó, công văn thư tín của Mông Cổ bắt đầu sử dụng chữ Duy Ngô Nhĩ; về sau cũng sử dụng cả chữ Hán.
Sau khi Hốt Tất Liệt lên ngôi hoàng đế, ông chuẩn bị sáng tạo một hệ thống chữ viết riêng cho Mông Cổ. Người phát minh ra bộ chữ ấy là một vị cao tăng Tây Tạng, tên là Bát Tư Ba.
Bát Tư Ba sinh ra tại huyện Tát Ca, Tây Tạng ngày nay. Khi mới bảy tuổi, ông đã có thể tụng đọc Phật kinh đến mấy chục vạn chữ, hơn nữa còn lĩnh hội được đại ý trong kinh Phật. Người đương thời gọi ông là Thánh đồng.
Năm 1250, dưới thời Đại hãn Mông Kha chấp chính, Bát Tư Ba mới 15 tuổi đã được gặp Hốt Tất Liệt. Sau khi gặp gỡ và đàm đạo với ông, Hốt Tất Liệt vô cùng khâm phục và kính trọng vị thiếu niên cao tăng này. Đến năm 17 tuổi, Bát Tư Ba trở thành giáo chủ của phái Tát Ca tại Tây Tạng. Năm 1260, Hốt Tất Liệt trở thành Đại hãn Mông Cổ, Bát Tư Ba cũng theo đó trở thành quốc sư của Hốt Tất Liệt.
Đến năm 1271, Hốt Tất Liệt xưng đế. Ông không chỉ là hoàng đế của Trung Quốc, mà còn là Đại Khả hãn của toàn bộ Đại Mông Cổ Đế quốc, tức là ngoài khu vực bản bộ ra, còn bao gồm cả tứ đại hãn quốc. Khi ấy, các khả hãn của tứ đại hãn quốc về danh nghĩa là phải được Đại Khả hãn ở Trung Nguyên sách phong thì mới có tính hợp pháp. Vì vậy, cương vực do Hốt Tất Liệt thống trị là vô cùng rộng lớn, còn Bát Tư Ba thì trở thành quốc sư.
Cũng từ đó, Tạng truyền Phật giáo trở thành quốc giáo. Các sử gia gọi việc này là định quốc giáo, tức là chính thức xác lập quốc giáo cho triều đại.
Khi ấy, lãnh thổ mà người Mông Cổ chiếm giữ là vô cùng rộng lớn, tín ngưỡng tôn giáo của các dân tộc trong cương vực ấy cũng hết sức phức tạp. Ở Hán địa chủ yếu là Phật giáo và Đạo giáo; người Mông Cổ nguyên vốn tin theo Shaman giáo; vùng Tây Vực thì có Hồi giáo, còn có những người tin theo Ma Ni giáo. Còn ở châu Âu thì có Công giáo La Mã, tức là Thiên Chúa giáo, lại có cả Đông Chính giáo. Có thể nói, toàn bộ cục diện tín ngưỡng tôn giáo trong đế quốc khi ấy là vô cùng đa dạng.
Người Mông Cổ thực thi chính sách khoan dung tôn giáo: tin gì cũng được, triều đình không cưỡng ép. Nhưng về mặt quốc gia, họ chọn Tạng truyền Phật giáo, hay còn gọi là Lạt Ma giáo, là quốc giáo. Sau khi Hốt Tất Liệt bổ nhiệm Bát Tư Ba làm quốc sư, để quản lý các sự vụ tôn giáo trong nước, ông thiết lập một cơ cấu chuyên trách gọi là Tổng Chế viện. Về sau, Tổng Chế viện được đổi tên thành Tuyên Chính viện.
Người đứng đầu Tổng Chế viện là Tổng Chế viện lĩnh viện sự, chính là vị trưởng quan tối cao, tức là quốc sư, cũng là đại Lạt Ma của Lạt Ma giáo. Bên dưới vị trưởng quan tối cao của Tổng Chế viện lại đặt thêm hai chức viện sứ, mà những người đảm nhiệm các chức này cũng là tăng nhân do quốc sư tiến cử. Vì vậy, địa vị của Tạng truyền Phật giáo trong triều Nguyên là vô cùng cao.
Sự an bài này của Nguyên Thế Tổ đã xác lập cơ cấu lãnh đạo nhị nguyên tại Tây Tạng. Trong Nguyên sử quyển 202 chép rằng: “Thế là mệnh lệnh của Đế sư được thi hành song song với chiếu sắc của hoàng đế tại Tây thổ”. Từ đó, Tây Tạng chính thức trở thành một bộ phận của Trung Quốc, chứ không còn chỉ là quan hệ triều cống như vào thời nhà Đường nữa.
Khi ấy, các tăng nhân của Tạng truyền Phật giáo được người Trung Quốc gọi là Tây tăng, tức là tăng nhân đến từ phương Tây. Địa vị của những Tây tăng này cực kỳ tôn quý. Nếu xem ghi chép trong Nguyên sử: mỗi lần triều đình tổ chức yến hội, chỗ ngồi của những người khác đều được đặt ở phía dưới. Sau khi ngồi xuống, đỉnh đầu của họ chỉ cao ngang với chân của Đại hãn. Nhưng chỗ ngồi của quốc sư thì gần như cao ngang với Hốt Tất Liệt. Chỉ riêng chi tiết ấy đã đủ thấy địa vị của Tây tăng khi đó cao đến mức nào.
Sau khi Hốt Tất Liệt xưng đế, Bát Tư Ba bắt đầu chế định một bộ văn tự Mông Cổ mới. Bộ chữ này sử dụng Phạn văn làm cơ sở, tức là văn tự Ấn Độ cổ đại, rồi sáng tạo ra 41 chữ cái. Từ 41 chữ cái ấy lại tổ hợp thành một hệ thống văn tự biểu âm.
Nếu bạn xem chữ Mông Cổ hiện nay, thì sẽ thấy những nét chữ ấy thường kéo rất dài, từng vòng từng vòng nối tiếp nhau, chỗ này có một vòng cong, chỗ kia lại có một nét móc, nhìn qua tưởng như không phải chữ viết. Nhưng trên thực tế, đó chính là một loại văn tự dùng để ghi âm. Chỉ cần viết theo đúng quy tắc của nó, người ta có thể ghép rồi đọc ra âm thanh; rồi thông qua âm thanh ấy thì sẽ hiểu ý nghĩa của từ ngữ.
Sau khi Bát Tư Ba hoàn thành việc chế định văn tự, Hốt Tất Liệt ban hành ra khắp thiên hạ. Để biểu dương công lao của Bát Tư Ba, ông phong Bát Tư Ba làm Đại Bảo Pháp Vương, đồng thời còn ban cho ngọc ấn.

