Tập 5: Triều Nguyên bắt đầu phát hành và lưu thông tiền giấy

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 27/06/2026

Sau khi Nguyên Thế Tổ lên ngôi, ông đã đặt niên hiệu, lập phong tục tế tự, tu sửa và ban hành lịch pháp, điều này rất giống với những việc mà các triều đại xưa thường làm sau khi thay triều đổi vận như: cải chính sóc, đổi màu y phục, dựng Thái Miếu, v.v. Việc chế định chữ viết mới của Mông Cổ lại có phần giống với chính sách “thư đồng văn” của Tần Thủy Hoàng; còn việc xác lập quốc giáo thì phảng phất giống như chính sách “độc tôn Nho thuật” của Hán Vũ Đế.

Chúng tôi đưa ra so sánh như vậy là để nói rõ rằng: một số việc làm của Hốt Tất Liệt quả thực mang di phong của những bậc đế vương hùng chủ như Tần Hoàng, Hán Vũ. 

Những bậc đế vương như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế đều từng làm việc thống nhất tiền tệ. Tần Thủy Hoàng thống nhất tiền tệ trong thiên hạ; Hán Vũ Đế thì cho đúc tiền Ngũ Thù. Sau khi Hốt Tất Liệt lên ngôi, ông cũng ban hành hệ thống tiền tệ của riêng mình. Tiền tệ của triều Nguyên khá đặc biệt: đó là một loại tiền giấy, lấy tơ lụa và bạc để làm bản vị. 

Khi xem phim truyền hình, chúng ta thường thấy người ta lấy bạc để mua món này món kia. Kỳ thực, cách hình dung ấy không hoàn toàn đúng với lịch sử. Thời đại mà bạc thực sự bắt đầu lưu thông với quy mô lớn là vào triều Minh, đặc biệt là từ trung kỳ triều Minh trở về sau, kéo dài mãi đến triều Thanh.

Bởi lẽ, vào giữa thời Minh, vừa đúng lúc thế giới bước vào thời đại “Đại phát hiện địa lý”. Vàng bạc từ châu Mỹ và Nhật Bản bắt đầu ồ ạt chảy vào Trung Quốc. Từ đó trở đi, Trung Quốc mới dần lấy bạc trắng làm loại tiền tệ chủ yếu trong lưu thông.

Loại tiền tệ sớm nhất của Trung Quốc là tiền vỏ sò. Vì vậy, khi nhìn vào chữ Hán, ta sẽ thấy những chữ có liên quan đến tiền bạc hầu như đều mang bộ “bối” (貝), tức là vỏ sò. Chẳng hạn, bên dưới chữ “quý” (貴) có chữ “bối” (貝); bên trái chữ “tiện” (賤) cũng có chữ “bối” (貝). Rồi như chữ “tứ” (賜) trong “ban thưởng”, chữ “tài” (財) trong câu “cung hỷ phát tài”, v.v., đều có bộ “bối”. Nguyên nhân là vì vào thời kỳ đầu khi chữ viết được sáng tạo, người xưa vốn dùng vỏ sò làm tiền tệ.

Về sau, đến thời Thương — Chu, cùng với sự phát triển của đồ đồng, người ta dùng đồng xanh để đúc lễ khí, nhạc khí, cũng như các loại binh khí như qua, mâu. Thế nhưng tiền tệ khi ấy vẫn chủ yếu là vỏ sò.

Đến thời Chiến Quốc, tiền đồng bắt đầu được đúc với số lượng lớn và lưu hành trên quy mô rộng. Tuy nhiên, hình dáng và quy cách của chúng lại không thống nhất: có loại hình tròn, có loại hình đao, lại còn nhiều hình dạng khác nữa. Mãi đến thời Tần Thủy Hoàng, tiền tệ mới được thống nhất, đúc thành loại tiền đồng “ngoài tròn trong vuông”.

Sang đến triều Hán, Hán Vũ Đế cho đúc tiền Ngũ Thù, đó cũng là một loại tiền đồng. Do kỹ nghệ đúc tiền Ngũ Thù rất tinh xảo, nên uy tín của đồng tiền này vô cùng cao. Tiền Ngũ Thù đã lưu thông ở Trung Quốc trong khoảng bảy trăm năm, mãi cho đến tận thời nhà Tùy, vẫn còn được sử dụng. Đến hậu kỳ của triều Tùy, chế độ tiền tệ trở nên khá hỗn loạn. Sang triều Đường, vào năm Vũ Đức thứ tư, Đường Cao Tổ – Lý Uyên cho đúc tiền “Khai Nguyên Thông Bảo”. Đây là loại tiền có uy tín khá cao của triều Đường.

Tuy nhiên, chế độ tiền tệ thời Đường nhìn chung vẫn tương đối phức tạp. Ngoài việc dùng tiền đồng làm tiền tệ, triều Đường còn dùng lụa làm tiền. Khi đọc sử sách triều Đường, chúng ta thường thấy mỗi khi hoàng đế ban thưởng, hoặc phát lương cho quân đội, đều nói là thưởng “thất lụa”. Vì vậy, tiền tệ của triều Đường thực ra có cả lụa, dĩ nhiên tiền đồng vẫn được sử dụng song song.

Đến triều Tống, người ta sử dụng cả tiền đồng và tiền sắt. Bởi vì có những địa phương không có đủ đồng, nên phải lấy sắt để đúc tiền. Kinh tế triều Tống phát triển rất phồn thịnh, lượng tiền lưu thông trong dân gian cũng vô cùng lớn, đòi hỏi phải đúc ra một khối lượng tiền khổng lồ. Đồng không đủ dùng, thì người ta chuyển sang đúc tiền sắt.

Vào thời Tống Chân Tông của Bắc Tống, tại vùng Tứ Xuyên có 16 gia tộc giàu có, họ cảm thấy rằng tiền đồng, tiền sắt mang theo là quá nặng nề, hết sức bất tiện. Nếu đi buôn đường xa mà phải mang theo một lượng lớn tiền như vậy, vác trên lưng quả thật là quá nặng. Thế rồi 16 gia tộc liên kết lại, cùng phát hành một loại tiền giấy. Loại tiền giấy này là tiền giấy sớm nhất của Trung Quốc, cũng là tiền giấy sớm nhất trên thế giới, được gọi là “Giao tử”.

Nếu nhìn từ góc độ kinh tế học ngày nay, thì có thể nói rằng 16 gia tộc ấy đã liên hợp lại để mở một “ngân hàng”. Họ lấy tài sản và uy tín của gia tộc làm bảo chứng, rồi phát hành ra loại tiền giấy ấy. Vì vậy, “Giao tử” lúc bấy giờ bắt đầu lưu hành tại vùng Tứ Xuyên.

Chẳng hạn, nếu một thương nhân từ Trùng Khánh đến Thành Đô để buôn bán, mang theo rất nhiều tiền đồng sẽ vô cùng bất tiện. Vậy thì, họ có thể đem tiền đồng đổi thành Giao tử, rồi đến nơi dùng Giao tử để giao dịch. Loại Giao tử này có phần giống như một dạng thư tín dụng. Sau khi giao dịch hoàn tất, người ở bên kia nhận được Giao tử. Nếu cần tiền mặt, họ có thể đến cơ cấu phát hành Giao tử để đổi tiền đồng. Cho nên, trên thực tế, Giao tử chính là một loại “tiền tệ tín dụng”.

Nhưng vấn đề là: Có thể những gia tộc phát hành tiền giấy ấy, sau khi nhận tiền đồng của người ta rồi đưa Giao tử, họ có thể sẽ tự ý đem số tiền đồng ấy đi tiêu mất? Đến khi người dân quay trở lại đổi tiền, trong kho của họ đã không còn tiền đồng nữa; hoặc tệ hơn, họ có thể phá sản. Vậy khi ấy phải làm sao?

Quả thật, những chuyện như vậy đã từng xảy ra, từ đó dẫn đến rất nhiều vụ kiện tụng lên quan phủ, cuối cùng kinh động đến hoàng đế. Hoàng đế cho rằng: không thể để người dân tự ý phát hành tiền giấy như thế được. Bởi vì triều đình không thể kiểm soát được mức độ tín nhiệm của loại tiền ấy, cũng không biết nó có bị mất giá hay không. Vì vậy, đến thời Tống Nhân Tông, triều đình bắt đầu lấy uy tín của chính phủ làm bảo chứng để phát hành tiền giấy. Thế nhưng, loại tiền giấy này ngay từ khi bắt đầu phát hành, đã liên tục mất giá.

Vì sao lại mất giá? Có lúc điều đó xảy ra không hẳn là do cố ý. Bởi vì việc phát hành tiền giấy phải tùy thuộc vào số lượng hàng hóa trên thị trường. Nhưng vào thời ấy, người ta không có phương pháp thống kê khoa học đối với lượng hàng hóa lưu thông, cho nên cũng không biết rốt cuộc nên phát hành bao nhiêu tiền giấy thì mới thích hợp.

Không phải rằng thị trường đang lưu thông mười đồng, thì cần phát hành đúng mười đồng. Không phải như vậy. Bởi vì nếu phát hành năm đồng, người nhận được năm đồng ấy lại sẽ tiếp tục đem nó đi tiêu dùng. Khi tiền cơ sở lưu thông trên thị trường, nó sẽ sinh ra một loại “hiệu ứng số nhân”.

Ví dụ đơn giản:

  • Triều đình phát hành 5 đồng.
  • Người A nhận 5 đồng, đem mua gạo của người B.
  • Người B lại dùng 5 đồng đó mua vải của người C.
  • Người C lại dùng 5 đồng đó trả công cho người D.
  • Người D lại dùng 5 đồng đó mua hàng của người E.

Như vậy, triều đình chỉ phát hành 5 đồng, nhưng 5 đồng ấy đã tạo ra nhiều lần giao dịch: mua gạo, mua vải, trả công, mua hàng… Tổng giá trị giao dịch có thể là 20 đồng, 30 đồng, thậm chí nhiều hơn, dù lượng tiền gốc ban đầu chỉ là 5 đồng. Đó chính là “hiệu ứng số nhân” — một lượng tiền cơ sở khi lưu thông sẽ được dùng đi dùng lại, tạo ra sức mua lớn hơn số tiền ban đầu.

Thế nhưng quy luật kinh tế như vậy, người đương thời đều chưa hiểu rõ. Khi thấy thiếu tiền, triều đình lại phát hành thêm, cuối cùng đã dẫn đến lạm phát tiền giấy.

Đến cuối thời Bắc Tống, triều đình lại muốn phát binh đánh Tây Hạ; Tống Huy Tông lại muốn xây dựng Vạn Tuế Sơn. Nhưng quốc khố không còn tiền. Thế là triều đình bắt đầu phát hành tiền giấy với số lượng lớn, kết quả dẫn đến sự hỗn loạn trong tài chính. Điều này cũng có quan hệ gián tiếp với sự diệt vong của Bắc Tống.

Về sau, sự diệt vong của nước Kim, bao gồm cả sự diệt vong của Nam Tống, cũng có phần liên quan đến việc lạm phát tiền giấy như vậy. Điều này nói rõ một vấn đề: phát hành tiền giấy nhất định phải có tiền dự trữ làm bảo đảm.

Ngày nay, chúng ta thấy tiền đô la Mỹ hay đồng Euro, thì giá trị của nó đều phải lấy uy tín của chính phủ làm bảo chứng. Người ta tin tưởng đồng đô la Mỹ, đó là vì họ tin vào uy tín của chính phủ Hoa Kỳ, tin vào uy tín của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Nhưng nếu đưa cho tôi tiền của Bắc Hàn, tôi sẽ không nhận, bởi vì tôi không tin vào uy tín của chính phủ Bắc Hàn. Cho nên, tiền tệ nhất định phải lấy uy tín của chính phủ làm nền tảng bảo đảm. Có thể nói, đồng tiền được vận hành bởi ‘niềm tin’, khi người ta không còn tin vào giá trị của tiền nữa, thì nó sẽ lập tức mất giá.

Trong hệ thống tiền tệ hiện đại, trước Chiến tranh thế giới thứ hai, người ta từng thực hành một chế độ gọi là “Bản vị vàng”, tức là lấy vàng làm bản vị, lấy vàng làm khoản dự trữ bảo đảm. Anh có bao nhiêu vàng, thì phát hành bấy nhiêu tiền tệ; đồng thời phải bảo đảm rằng tiền tệ ấy vẫn có thể đổi ngược lại thành vàng. Đó chính là chế độ “Bản vị vàng”.

Đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Hoa Kỳ khi ấy nắm giữ tới 75% lượng vàng dự trữ của toàn thế giới, vì vậy uy tín tiền tệ của Hoa Kỳ là tốt nhất. Do đó, lúc bấy giờ người ta quy định rằng đồng đô la Mỹ lấy dự trữ vàng làm cơ sở, mỗi Ounce vàng có thể đổi được 35 đô la Mỹ. Nói cách khác, căn cứ vào lượng vàng mà quốc gia sở hữu, lấy số ounce vàng nhân với 35, đó chính là tổng lượng tiền tệ mà quốc gia ấy có thể phát hành. Không được nhiều hơn, cũng không được ít hơn. Như vậy, mỗi 1 đô la Mỹ sẽ hàm chứa 1/35 ounce vàng. Đây gọi là “hàm lượng vàng” của tiền tệ.

Tiền tệ của mỗi quốc gia đều có một “hàm lượng vàng”, đều tương ứng với một lượng vàng nhất định. Vì vậy, tỷ giá giữa các quốc gia, giữa các loại ngoại tệ với nhau, được quyết định bởi “hàm lượng vàng” ấy. Do đó, tỷ giá khi ấy là cố định, gọi là “cơ chế tỷ giá cố định”.

Đồng đô la Mỹ không mất giá, bởi vì nó đối ứng với vàng; tiền tệ của các quốc gia khác cũng đối ứng với vàng, cho nên về nguyên tắc là đều không bị mất giá. Nhưng đến năm 1973, dưới thời Tổng thống Nixon, mối quan hệ đối ứng giữa vàng và đô la Mỹ bị hủy bỏ, tức là đồng đô la Mỹ không còn bảo đảm “hàm lượng vàng” của nó nữa.

Như vậy, “hệ thống Bretton Woods” vốn lấy vàng làm bản vị, khi này đã hoàn toàn sụp đổ. Ngày nay, khi thấy một Ounce vàng được bán với giá một nghìn hai trăm đô la, một nghìn năm trăm đô la, thì có thể thấy đồng tiền đã không biết mất giá bao nhiêu chục lần rồi.

Ngày nay, giữa các quốc gia thực hành một chế độ gọi là “tỷ giá hối đoái thả nổi”. Bởi vì không còn lấy vàng làm nền tảng nữa, nên tỷ giá sẽ do thị trường quyết định. Dĩ nhiên, có những lúc chính phủ sẽ can thiệp vào vấn đề này.

Chúng tôi chia sẻ nhiều điều về chính sách tiền tệ, chính là để làm rõ một điều: vào thời triều Nguyên, khi Hốt Tất Liệt lấy tiền giấy làm phương tiện lưu thông hàng hóa chủ yếu, ông đã phải đối mặt với vấn đề lạm phát, và đã vượt qua.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Đại Minh vương triều.

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>