Tập 53: Cao Tổ ban thưởng cho công thần – Tiêu Hà và Trương Lương đứng đầu

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 27/09/2025

Vào tháng 2 năm 202 TCN, Lưu Bang xưng đế. Ông áp dụng chế độ kết hợp giữa phân phong và quận huyện, đồng thời phong cho bảy vị vương khác họ. Nhưng chỉ năm tháng sau khi xưng đế, Yên vương Tàng Đồ đã tạo phản. Kể từ đó, Lưu Bang bắt đầu lần lượt tiêu diệt các chư hầu khác họ.

Mùa đông năm 202 TCN, Lưu Bang nghe theo kế sách “giả tuần Vân Mộng” của Trần Bình, bắt giữ Hàn Tín và giáng Hàn Tín xuống tước Hoài Âm hầu.

Vậy thì, Hán Cao Tổ Lưu Bang đã đối đãi với những công thần còn lại như thế nào?

Thời điểm Cao Tổ phong thưởng công thần là tháng 12 năm 202 TCN, tức mười tháng sau khi xưng đế, và cũng là sau khi giáng chức Hàn Tín xuống làm Hoài Âm hầu. Có thể là do Lưu Bang quá bận rộn, nhưng cũng rất có khả năng đây là một nước tính toán của ông. 

Bởi vì giang sơn nhà Hán phần lớn là do một mình Hàn Tín đánh hạ. Nếu luận công mà ban thưởng ngay, thì dĩ nhiên Hàn Tín phải xếp đầu tiên. Vậy nên, chỉ sau khi Hàn Tín bị giáng chức, Lưu Bang mới bắt đầu phong thưởng cho các công thần.

Tôi cho rằng, khi phong thưởng, điều Lưu Bang xem trọng nhất là lòng trung thành, rồi mới đến công lao, bởi vì ông đã xếp Tiêu Hà là đệ nhất công thần. 

Kết quả này vừa công bố, triều đình xôn xao, nhiều người bất mãn. Họ nói: “Chúng tôi mặc giáp cầm thương, xông pha trận mạc, sống chết trong gang tấc — như Tào Tham cũng mang đến hơn bảy mươi vết thương. Còn Tiêu Hà chỉ ở nhà lo lương thảo, chiêu mộ binh lính, sao lại là đệ nhất công thần?”

Lưu Bang liền nói: “Các ngươi từng thấy thợ săn đuổi thỏ chưa? Tuy chạy đuổi là chó săn, nhưng người chỉ huy chó lại là thợ săn. Công lao của các tướng quân các ngươi cũng giống như chó săn, còn Tiêu Hà chính là người thợ săn kia.”

Tất nhiên, mặc dù Lưu Bang nói vậy, mọi người vẫn không phục. Bởi vì người trực tiếp ra mệnh lệnh cho các tướng quân chính là Lưu Bang, chứ không phải Tiêu Hà. Nhưng vì Tiêu Hà có mối quan hệ rất thân thiết với Lưu Bang, nên mọi người đành chấp nhận, để ông ấy làm đệ nhất công thần.

Lưu Bang phong Tiêu Hà làm Tể hầu (酂侯), ban cho đặc ân “nhập triều bất xướng, kiếm lý thượng điện” – đây là một vinh dự cực kỳ cao.

Bởi vì trước đây, các đại thần khi vào triều kiến hoàng đế, trước lúc vào phải “xướng” – tức là bước đi nhanh và ngắn, thể hiện sự cung kính, không để hoàng thượng phải chờ. Nhưng Tiêu Hà thì được miễn lễ, có thể chậm rãi vào triều.

Hơn nữa, quy định cũ không cho phép đại thần mang kiếm vào điện, khi vào còn phải tháo giày để quỳ dưới chiếu (vì người xưa ngồi bệt dưới đất). Nhưng Tiêu Hà được phép mang kiếm, đi giày vào thượng điện, chứng tỏ sự đãi ngộ cực cao.

Tuy vậy, tước phong của Tiêu Hà ban đầu chỉ có 8.000 hộ, sau này Lưu Bang mới tăng thêm 2.000 hộ nữa, tổng cộng là 10.000 hộ, đủ tiêu chuẩn “vạn hộ hầu”.

Người tiếp theo được ban thưởng là Trương Lương. Lưu Bang định phong cho ông 30.000 hộ, nhưng Trương Lương từ chối. Ông nói:

“Thần và bệ hạ gặp nhau ở Lưu Thành, đó mới là cơ duyên để thần có được công danh sự nghiệp hôm nay. Xin bệ hạ chỉ phong thần làm Lưu hầu, để ghi nhớ nơi bắt đầu.”

Trương Lương mang đậm tinh thần của Đạo gia – công thành thân thoái. Sau đó, ông sống rất ẩn dật, thường viện cớ thân thể yếu đuối, đóng cửa không tiếp khách, chuyên tâm học các phương pháp tịch cốc và đạo dẫn.

Ông từng giải thích rằng:

“Gia tộc ta đời đời làm tướng quốc nước Hàn. Đến khi Hàn diệt vong, ta chẳng tiếc vàng bạc, từng dùng cả vạn cân hoàng kim để thuê thích khách ám sát Tần Thủy Hoàng, khiến thiên hạ chấn động. Nay ta chỉ dùng ba tấc lưỡi, có thể làm thầy của đế vương, được phong vạn hộ, xếp ngang hàng liệt hầu – thế là tột đỉnh của một kẻ áo vải rồi. Vậy ta nguyện buông bỏ chuyện thế gian, chỉ muốn theo chân Xích Tùng Tử mà tiêu dao thôi.”

Vì vậy, trong Sử ký có chép: “Trương Lương học bế cốc, đạo dẫn khinh thân.”

Ý rằng: Ông không ăn cơm, luyện dưỡng sinh và khí công, để cho thân thể nhẹ nhàng siêu thoát. Bởi thế, Lưu Bang hoàn toàn không nghi ngờ ông, biết rằng Trương Lương tuyệt không có ý mưu phản.

Người thứ ba mà Lưu Bang phong thưởng là Trần Bình, phong làm Hộ Dũ hầu (戶牖侯). Trần Bình nói:

“Nếu không có Ngụy Vô Tri tiến cử, thì làm sao thần có cơ hội được yết kiến bệ hạ?”

Cao Tổ liền nói:
“Người như ngươi, biết nhớ ơn gốc rễ, thật đáng quý.”

Rồi Cao Tổ trọng thưởng cho Ngụy Vô Tri.

Khi Hán Cao Tổ phong thưởng công thần, có 18 người được đánh giá là bậc công huân đệ nhất. Trong số này, không có ai là dị tính vương (tức những người được phong vương nhưng không mang họ Lưu).

Việc phong thưởng công thần có nhiều cách: có thể phong tước vị như vương, công, hầu; có thể ban quan chức, tiền tài; cũng có thể ban đất đai.

Nhưng quan sát thực tế thì thấy rằng:
Phàm những ai được Lưu Bang “xẻ đất phong vương”, thì hoặc là tạo phản, hoặc bị nghi ngờ tạo phản, phần nhiều không có kết cục tốt đẹp. Chỉ duy Trường Sa vương là ngoại lệ.

Còn những người ở bên cạnh Lưu Bang, đa phần đều được hậu đãi và sống trọn vẹn cuối đời.

Trong số các dị tính vương do Lưu Bang phong, có một người tên là Hàn vương Tín – để phân biệt với Sở vương Hàn Tín, nên người đời sau gọi ông là Hàn vương Tín.

Chúng ta biết, nước Hàn thời Chiến Quốc vốn ở khu vực Trung Nguyên, gần Lạc Dương. Lưu Bang thấy Hàn vương Tín có tài, nhưng không yên tâm, nên điều ông ra trấn thủ phương Bắc, để chống Hung Nô, đặt đô tại Mã Ấp (nay thuộc huyện Thọ, tỉnh Sơn Tây).

Đến mùa thu năm 201 TCN, Hung Nô đại quân vây khốn Mã Ấp, Hàn vương Tín nhiều lần phái sứ giả cầu hòa với Hung Nô. Lưu Bang định phát binh tiếp viện, nhưng rồi lại nghe tin Hàn vương Tín có liên lạc mờ ám với Hung Nô, sợ ông có hai lòng, bèn sai người đến trách mắng. Hàn vương Tín lo sợ bị giết, liền đem cả Mã Ấp đầu hàng Hung Nô. Việc này khiến quân Hung Nô thừa cơ nam tiến, đánh tới tận Tấn Dương – tức Thái Nguyên, Sơn Tây ngày nay. Mãi đến bốn năm sau, Hàn vương Tín mới bị đánh bại.

Người tiếp theo bị cuốn vào vụ án mưu phản là Triệu vương Trương Ngao.

Ban đầu, Lưu Bang phong cho Trương Nhĩ làm Triệu vương. Trong thời kỳ chiến tranh Sở – Hán, Trương Nhĩ cùng Hàn Tín chinh phạt nước Triệu. Về sau, khi Hàn Tín được phái đi đánh nước Tề, Triệu quốc được giao lại cho Trương Nhĩ cai quản. Sau khi Cao Tổ Lưu Bang xưng đế, chưa đầy nửa năm, Trương Nhĩ qua đời, con trai ông là Trương Ngao kế vị làm Triệu vương. Trương Ngao cũng kết hôn với công chúa Lỗ Nguyên, là con gái của Lưu Bang.

Vào năm 200 TCN, tức năm thứ 7 nhà Hán, Cao Tổ từ Bình Thành trở về kinh, đi qua đất Triệu. Trước khi đến đây, ông đã trải qua một phen nguy hiểm, suýt nữa mất mạng nên tâm trạng rất bực bội.

Khi vua đến, Triệu vương Trương Ngao ngày nào cũng đích thân mang lễ vật và đồ ăn dâng lên, vô cùng khiêm cung, dù gì đó chính là cha vợ của mình.

Nhưng Lưu Bang lại vô cùng kiêu ngạo, thường ngồi chễm chệ, dang rộng hai chân, kiểu ngồi này gọi là “ki cư” (箕踞), vốn là tư thế cực kỳ bất kính. Lại còn thường xuyên mắng chửi Trương Ngao.

Dưới quyền Trương Ngao có hai vị tể tướng, một là Quán Cao, một là Triệu Ngọ, đều đã hơn sáu mươi tuổi. Hai người này không thể chịu nổi cảnh nhục nhã đó, vô cùng phẫn nộ, trách Trương Ngao quá mềm yếu. Họ khuyên Trương Ngao rằng:

“Thiên hạ anh hùng khắp nơi nổi dậy, ai có tài đều có thể xưng vương. Nay Cao Tổ vô lễ như thế, chi bằng để chúng thần thay ngài giết ông ta.”

Trương Ngao cắn ngón tay, nhỏ máu thề rằng:

“Sao các người lại dám nói chuyện đại nghịch như thế?
Phụ thân ta là Trương Nhĩ, từng là kẻ mất nước, nhờ Cao Tổ mới có thể phục quốc. Tất cả những gì ta có hôm nay, từng chút một đều là do Cao Tổ ban cho.
Xin các vị đừng bao giờ nhắc lại lời ấy nữa.”

Nhưng Quán Cao, Triệu Ngọ cùng hơn mười người khác liền bàn nhau:

“Việc này là do bọn ta sai, Triệu vương là người trung hậu, không nỡ phản bội Cao Tổ. Nhưng chúng ta không thể trơ mắt nhìn chủ nhân bị nhục mãi thế này. Tội thì chúng ta tự gánh, cần gì phải xin phép Triệu vương? Nếu thành công, ta sẽ tôn ông làm hoàng đế; nếu thất bại, bọn ta chết cũng không oán.”

Nhưng lần này có vẻ là hành sự quá gấp gáp, Quán Cao và Triệu Ngọ chưa chuẩn bị chu toàn. Đến năm sau, khi Lưu Bang lại ghé Triệu quốc, Quán Cao và Triệu Ngọ bí mật cho người mai phục sát thủ trong bức tường của nhà trọ, nơi Lưu Bang sẽ nghỉ lại. Họ chờ đến khi vua ngủ say để ra tay.

Nhưng ngay trước khi vào nhà trọ, Lưu Bang chợt cảm thấy bất an, bèn hỏi:

“Nơi này tên là gì vậy?”

Có người đáp:

“Gọi là Bách Nhân (柏人).”

Nhưng vì giọng địa phương phát âm “Bách Nhân” nghe giống “Bức Nhân” (迫人) – tức là mang nghĩa “ép người, cưỡng bức” – nên Lưu Bang cảm thấy không may, liền rời đi ngay trong đêm, và thoát được một kiếp ám sát.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tần Hoàng Hán Vũ

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>