Tập 63: Lữ Hậu lộng hành, thao túng cục diện nhà Hán

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 28/09/2025

Vào tháng 4 năm 195 trước Công nguyên, Hán Cao Tổ Lưu Bang băng hà tại Trường Lạc cung. Sau đó, Lữ hậu bắt đầu điên cuồng báo thù Thích phu nhân và Triệu vương Như Ý — những người từng tranh sủng với bà năm xưa.

Những thủ đoạn tàn độc của Lữ hậu đã khiến Hán Huệ Đế Lưu Doanh khiếp sợ đến mức phát bệnh nặng, từ đó không còn đoái hoài đến triều chính. Tiếp theo, Lữ hậu còn mưu tính đầu độc Lưu Phì — trưởng tử của Lưu Bang, thậm chí ép Lưu Doanh lập cháu gái ruột bên ngoại của bà làm hoàng hậu.

Sau hàng loạt hành động điên rồ ấy, chính lòng tham quyền lực vô độ của Lữ hậu đã khiến bà ra tay sát hại thêm các hoàng tử của Lưu Bang, và đồng thời gieo mầm họa diệt tộc cho dòng họ nhà mình.

Vào tháng 8 năm 188 trước Công nguyên, Hán Huệ Đế Lưu Doanh băng hà, khi ấy mới chỉ 24 tuổi. Lưu Doanh có sinh vài người con trai với các phi tần khác, còn người vợ chính — hoàng hậu của ông — tính ra lúc ấy còn chưa đến 10 tuổi, nên hoàn toàn chưa có khả năng sinh con.

Vì vậy, Lữ hậu đã chọn một trong các con trai của Lưu Doanh với phi tần khác, tên là Lưu Cung, lập làm hoàng đế, sử gọi là Tiền Thiếu Đế. Đồng thời, bà còn ép Lưu Cung được ghi vào tông tịch là con nuôi của hoàng hậu Trương Yên — vợ chính thức của Lưu Doanh. Mà Lưu Cung thì lớn lắm cũng chỉ khoảng 10 tuổi, hoàn toàn không có năng lực giải quyết việc nước. Vì vậy, quyền hành trong triều hoàn toàn rơi vào tay Lữ hậu.

Lữ hậu nhân danh Thái hoàng thái hậu để nhiếp chính, mở ra tám năm “Lữ hậu thính chính”. Trong thời gian này, bà cai trị với sự tàn nhẫn và tham lam như lang sói. Sau khi làm nhiều việc tàn bạo, Lữ hậu cũng e sợ công thần bất mãn, nên bà tìm cách xây dựng thế lực ngoại thích để củng cố quyền lực cho dòng họ mình.

Lúc này, thừa tướng Tiêu Hà đã qua đời, người kế nhiệm là Tào Tham cũng đã mất. Hai người được bổ nhiệm kế tiếp là Hữu thừa tướng Vương Lăng và Tả thừa tướng Trần Bình. Vương Lăng là người thật thà, chất phác, lại hơi khờ khạo. Một hôm, Lữ hậu hỏi ông rằng: “Ta muốn lập người họ Lữ làm vương, ngươi thấy sao?” Vương Lăng thẳng thắn đáp: “Không thể được. Năm xưa Cao hoàng đế cùng các công thần đã lập Bạch Mã chi minh: ‘Phi Lưu thị nhi vương giả, thiên hạ cộng kích chi’ (Tức không kẻ không mang họ Lưu mà xưng vương, thì toàn thiên hạ đều phải cùng nhau đánh dẹp). Nếu người họ Lữ mà được phong vương, thiên hạ sẽ nổi loạn, tuyệt đối không thể làm thế được.”

Lữ hậu nghe xong thì vô cùng tức giận, bèn quay sang hỏi ý kiến Trần Bình và Chu Bột. Trần Bình là người khôn khéo, liền nói: “Năm xưa khi Cao hoàng đế tại vị, ngài lập người họ Lưu làm vương. Nay Thái hoàng thái hậu ngài đang nắm giữ đại quyền như hoàng đế, đương nhiên cũng có thể phong người họ Lữ làm vương. Thần thấy điều này không có gì sai.”

Nghe vậy, Lữ hậu liền tỏ ra rất vui mừng.

Vương Lăng là Hữu thừa tướng, địa vị cao hơn Trần Bình và Chu Bột. Sau khi rời triều, ông hỏi hai người rằng: “Lúc lập Bạch Mã chi minh, hai người các ngươi cũng có mặt. Giờ chỉ vì muốn lấy lòng Lữ hậu mà nói ra những lời vứt bỏ nguyên tắc như thế, sau này chết rồi, các ngươi còn mặt mũi nào xuống âm phủ gặp Cao Hoàng Đế?”

Trần Bình và Chu Bột đáp:

“Nếu là tranh luận phải trái trên triều đình, chúng tôi đích xác không bằng ngài. Nhưng nếu nói đến việc làm sao để ổn định thiên hạ họ Lưu, thì e rằng ngài không bằng chúng tôi.”

Vương Lăng nghe xong tròn mắt kinh ngạc, không hiểu hai người ấy rốt cuộc đang muốn làm cái gì. Thế là Lữ hậu liền nhận được sự hậu thuẫn của Trần Bình và Chu Bột.

Thấy Vương Lăng không tán thành, Lữ hậu bèn “đẩy lên cao” — phong ông làm Thái phó. Chức Thái phó tương đương với thầy dạy của hoàng đế, địa vị tôn quý nhưng hoàn toàn không có thực quyền. Vương Lăng hiểu rõ Lữ hậu đang dùng mưu kế đẩy mình ra ngoài, tức giận liền dâng sớ từ quan. Lữ hậu thuận thế cho ông về nhà, đồng thời đề bạt Trần Bình lên làm Hữu thừa tướng.

Sau đó, Lữ hậu phong người tâm phúc nhất, cũng là người có quan hệ mờ ám với bà là Thẩm Thực Kỳ — làm Tả thừa tướng. Tuy rằng Thẩm Thực Kỳ không can dự vào triều chính, chỉ lo việc trong cung, nhưng ai trong triều cũng biết mối quan hệ không minh bạch giữa hắn và Lữ hậu. Do đó, các đại thần khi có việc thường đến tìm Thẩm Thực Kỳ để xin chỉ thị, mong hắn đứng ra quyết định.

Sau đó, Lữ hậu truy phong cha ruột đã mất là Lữ Văn làm Tuyên vương, anh trai đã mất là Lữ Trạch làm Đạo Vũ vương — để xem như “thử phản ứng” của bá quan văn võ.

Sang năm sau, tức năm 187 TCN, công chúa Lỗ Nguyên qua đời. Lữ hậu liền phong con trai của Lỗ Nguyên công chúa làm Lỗ vương. Đây cũng là một vị vương không phải họ Lưu, bởi vì chồng của công chúa Lỗ Nguyên là Trương Ngao.

Đồng thời, bà cũng phong con trai của Lữ Trạch là Lữ Đài làm Lữ vương, cai trị quận Tế Nam — đây là người họ Lữ đầu tiên còn sống được phong làm vương. Kế đó, Lữ hậu lại phong em gái ruột là Lữ Tu làm Lâm Quang hầu — trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc được phong hầu.

Tất cả những việc làm này đều trái với Bạch Mã chi minh mà Cao Tổ năm xưa đã lập ra. Minh ước này có hai điều chủ yếu:

  1. Miễn là quốc gia còn tồn tại, thì con cháu các công thần phải được bảo vệ tước vị.
  2. Kẻ không mang họ Lưu mà được phong vương, thì thiên hạ phải cùng nhau đánh dẹp. Kẻ không có công trạng mà được phong hầu, thiên hạ cũng có thể đồng lòng tru phạt.

Nay Lữ hậu phong em gái mình làm hầu, chẳng những không phải là họ Lưu, lại còn không có công lao gì — rõ ràng là trái hẳn với minh ước năm xưa.

Đến năm 184 trước Công nguyên, lại xảy ra một sự việc chấn động. Tiền Thiếu Đế Lưu Cung lúc này đã lớn dần, bắt đầu biết rằng mẹ ruột của mình đã bị Lữ hậu sát hại. Còn hiện tại hoàng hậu Trương Yên — nay đã trở thành Thái hậu — không phải là mẹ ruột của cậu. Lưu Cung tức giận nói: “Mẹ ta sao có thể bị giết một cách dễ dàng như vậy? Sau này ta nhất định sẽ báo thù cho mẹ!”

Lời nói ấy, dù chỉ là sự thẳng thắn của một đứa trẻ, nhưng tai vạ đã giáng xuống. Lữ hậu nghe được chuyện ấy, lập tức triệu tập quần thần họp bàn, nói rằng: “Hoàng đế bị bệnh tinh thần rồi, giờ nói năng bậy bạ. Ta thấy nó không còn thích hợp làm vua nữa, phải đổi người. Các khanh thấy sao?”

Lúc này, các công thần đều đã bị Lữ hậu khống chế, không ai dám phản đối. Thế là Lữ hậu phế truất Lưu Cung, chọn một người con khác của Lưu Doanh tên là Lưu Nghĩa lên ngôi, sử gọi là Hậu Thiếu Đế. Sau đó đổi tên ông thành Lưu Hoằng, và tiếp tục nắm quyền nhiếp chính.

Về phần Tiền Thiếu Đế bị phế, Lữ hậu ban cho một chén thuốc độc, kết liễu mạng sống. Phải biết rằng, dù Lưu Cung không phải là con của Thái hậu Trương Yên, nhưng vẫn là con ruột của Lưu Doanh, tức là cháu nội ruột của Lữ hậu. Nhưng sao bà ta vẫn có thể giết cháu mình một cách đơn giản như vậy.

Lúc này, Tề vương Lưu Phì đã qua đời vì bệnh, Lưu Như Ý bị đầu độc, Lưu Doanh cũng đã qua đời. Con trai còn sống của Lưu Bang khi đó chỉ còn lại 5 người.

Năm 181 TCN, Lữ hậu cho triệu Triệu vương Lưu Hữu vào Trường An. Lưu Hữu kết hôn với một người con gái họ Lữ. Có lẽ con gái họ Lữ phần lớn đều giống Lữ hậu — không dịu dàng, không hiền hậu — nên Lưu Hữu rất ghét. Cô con gái họ Lữ ấy liền đi mách với Lữ hậu rằng: “Lưu Hữu rất bất mãn với họ Lữ chúng ta, nói rằng thiên hạ rõ ràng thuộc về họ Lưu, sao người họ Lữ lại được nắm quyền? Hắn nhất định sẽ báo thù.”

Lữ hậu nghe xong thì nổi giận, lập tức giam Lưu Hữu vào một trạm dịch (là quán trọ do nhà nước quản lý), rồi sai quân canh giữ nghiêm ngặt, không cho ai mang cơm đến. Cuối cùng, Lưu Hữu bị bỏ đói trong trạm hơn mười ngày mà chết.

Sau đó, Lữ hậu phong Lương vương Lưu Hồi — một người con khác của Lưu Bang — làm Triệu vương. Ngai vị Triệu vương dường như đã bị nguyền rủa: Lưu Như Ý bị đầu độc, Lưu Hữu bị bỏ đói, đến Lưu Hồi thì lại một lần nữa gặp tai ương.

Lữ hậu lại gọi Lưu Hồi đến Trường An. Ông cũng lấy một người con gái họ Lữ, nhưng không hề thích người vợ ấy. Cô vợ họ Lữ sai người bí mật theo dõi Lưu Hồi như đặc vụ. Lưu Hồi đem lòng yêu một người phụ nữ khác, thì người vợ họ Lữ liền sai người đầu độc tình nhân đó. Lưu Hồi cảm thấy cuộc sống quá u uất, bị kiểm soát từng hành động, người mình yêu cũng bị hãm hại. Cuối cùng, ông tự sát.

Ba đời Triệu vương: Lưu Như Ý, Lưu Hữu, Lưu Hồi — đều chết trong tay họ Lữ.

Năm 181 TCN là một năm đại loạn. Năm ấy, Lưu Hữu bị bỏ đói đến chết, Lưu Hồi tự sát. Lưu Bang vẫn còn một người con út nữa là Yên vương Lưu Kiến — cũng qua đời vì bệnh trong cùng năm đó.

Sau khi Lưu Kiến mất, ngôi vương nước Yên lẽ ra phải do con trai ông kế vị. Nhưng Lữ hậu lại đầu độc người con ấy, rồi tuyên bố nước Yên không còn quốc quân, và lập tức xóa bỏ phiên quốc này.

Sau đó, bà phong Lữ Thông làm Yên vương; phong cháu trai ruột — con của anh bà là Lữ Lộc — làm Triệu vương; và phong con của Lữ Trạch (anh khác của bà) là Lữ Sản làm Lương vương.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tần Hoàng Hán Vũ

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>