Sau khi Lưu Bang băng hà, Lữ Hậu lần lượt giết chết ba người con trai của ông: Triệu Vương Như Ý, Lưu Hữu và Lưu Huy, đồng thời cũng sát hại hai người cháu nội của Lưu Bang. Ngay cả con trai ruột của bà là Lưu Doanh cũng vì bà mà mất mạng. Cộng thêm Tề Vương Lưu Phì và Yên Vương Lưu Kiến chết vì bệnh, trong số tám người con trai của Lưu Bang thì đã có sáu người đã qua đời.
Những hành vi đảo ngược đạo lý của Lữ Hậu đã khiến các công thần trong triều phẫn nộ và phản đối mạnh mẽ. Lúc bấy giờ, triều đình chia thành ba thế lực chính:
Một là phe hoàng tộc, gồm những người mang dòng máu họ Lưu, phần lớn đang trấn giữ các nước chư hầu bên ngoài, như Ngô Vương Lưu Tỵ, Tề Vương Lưu Tương…
Hai là phe ngoại thích, gồm các thân thuộc họ Lữ được Lữ Hậu phong vương, như Lương Vương Lữ Sản, Triệu Vương Lữ Lộc, Yên Vương Lữ Thông…
Ba là phe công thần, những bậc khai quốc công thần, vốn đã bất mãn sâu sắc trước những thủ đoạn chuyên quyền của Lữ Hậu.
Có lẽ chính Lữ Hậu lúc ấy cũng cảm thấy địa vị của mình chưa vững vàng, nên đã tìm cách kết thông gia giữa họ Lưu và họ Lữ để củng cố thế lực. Bà gả con gái của Triệu Vương Lữ Lộc cho Lưu Chương – con trai thứ hai của Tề Vương Lưu Phì. Lưu Phì có ba con trai: trưởng tử Lưu Tương nối ngôi Tề Vương sau khi ông qua đời; thứ tử là Lưu Chương; con út là Lưu Hưng Cư. Lưu Chương được phong làm Chư Hư Hầu, tuổi tuy còn trẻ nhưng tính tình quả quyết, hành động dứt khoát, Lữ Hậu cũng rất quý mến chàng.
Một lần kia trong tiệc gia yến, Lữ Hậu sai Lưu Chương làm người giám tửu – tức là người điều khiển luật uống rượu trong buổi tiệc. Lưu Chương bẩm rằng mình là hậu duệ tướng quân, xin được áp dụng quân pháp để quản lý buổi tiệc: kẻ nào vi phạm luật rượu sẽ xử theo pháp lệnh quân ngũ. Lữ Hậu cảm thấy lời ấy rất thú vị, bèn gật đầu đồng ý.
Chẳng ngờ, có một người trong họ Lữ uống say rồi bỏ tiệc, vi phạm tửu lệnh. Lưu Chương lập tức sai người đuổi theo và giết ngay tại chỗ. Việc ấy khiến mọi người kinh ngạc, nhưng cũng cho thấy tính cách quyết liệt, không kiêng dè gì của Lưu Chương.
Vì Lữ Hậu đã chấp thuận quân pháp từ trước, nên lúc ấy cũng không thể nói gì được.
…
Lưu Chương từng nói với Lữ Hậu rằng mình biết trồng ruộng. Lữ Hậu bật cười, bảo: “Ngươi thân là hoàng tử, cả đời chưa từng cày cấy, làm sao biết trồng ruộng được?”
Lưu Chương bèn nói: “Vậy thần xin hát một bài, ca từ nói về cách trồng ruộng.” Rồi chàng cất tiếng:
“Thâm canh cốc chủng, lập miêu dục sơ, phi kỳ chủng giả, trừ nhi khứ chi.”
Có nghĩa là: Cày sâu, gieo cốc, cây non trồng cách thưa; không phải giống tốt, thì nhổ bỏ cho sạch.
Lời ca ấy thực chất là một lời ám chỉ sâu cay: họ Lưu là “giống tốt” cần vun trồng, còn họ Lữ là cỏ dại nên phải nhổ bỏ. Lữ Hậu nghe xong, biết rằng bị châm biếm, nhưng cũng chỉ lặng thinh, không đáp một lời.
Thật khó hiểu thay, một người tàn độc như Lữ Hậu lại tha mạng cho Lưu Chương, từ đầu đến cuối vẫn không ra tay hãm hại.
Trong triều, không chỉ hoàng tộc bất mãn mà ngay cả các công thần cũng dấy lên mối lo ngại lớn. Lúc ấy, Thừa tướng là Trần Bình. Một hôm, ông ngồi trong tư thất, trầm tư suy nghĩ: “Hoàng đế còn nhỏ, quyền lực trong tay họ Lữ ngày càng lớn mạnh, vận nước rồi sẽ ra sao đây?”
Đúng lúc ấy, Lục Giả đến thăm. Người đọc sử hẳn còn nhớ, Lục Giả chính là sứ thần từng đi sứ sang nước Nam Việt, cũng là người từng dâng lên Lưu Bang bộ Tân Ngữ, bàn về đạo lý trị quốc của Đại Hán. Lục Giả tài trí xuất chúng, lại thân thiết với Trần Bình, nên cứ thế mà đi thẳng vào thư phòng.
Trần Bình đang mải suy nghĩ đến độ không nhận ra có người đến. Lục Giả ngồi xuống một bên, bỗng cất tiếng hỏi:
– Thừa tướng đang suy tư điều gì mà chuyên chú đến vậy?
Trần Bình lúc này mới giật mình nhận ra bạn cũ. Ông đáp:
– Vậy ngài đoán xem ta đang nghĩ điều chi?
Lục Giả bảo:
– Chức vị của ngài nay đã đến Thừa tướng, chẳng còn gì cao hơn. Nếu vẫn còn canh cánh trong lòng, hẳn là vì họ Lữ lộng quyền, còn nhà Lưu thì mỗi lúc một suy yếu. Có đúng thế chăng?
Câu nói ấy như chạm thẳng vào nỗi lòng của Trần Bình. Ông hỏi:
– Vậy nên làm thế nào?
Phải biết rằng Trần Bình vốn là người bày mưu lập kế cho Lưu Bang ngày trước. Nay lại phải đi hỏi kế người khác, đủ biết tình thế lúc ấy nguy cấp nhường nào.
Lục Giả liền nói:
“Thiên hạ an, chú ý thừa Tướng; thiên hạ nguy, chú ý Tướng quân.”
Có nghĩa là: Lúc quốc gia yên ổn, vai trò Thừa tướng quan trọng; nhưng khi giang sơn nguy biến, quyền lực nằm trong tay Tướng quân.
Nếu ngài thực sự lo cho vận mệnh nhà Lưu, thì điều cấp thiết là kết giao với người đang nắm binh quyền – chính là Thái úy Chu Bột, là Tổng tư lệnh toàn quân ấy.
Lục Giả nói tiếp:
“Tướng – Tướng hòa, tắc sĩ dự phụ; sĩ dự phụ, thiên hạ tuy hữu biến, quyền bất phân; quyền bất phân, vi xã tắc kế, tại lưỡng quân chưởng nãi nhĩ.”
Có nghĩa là: Tướng quốc và Tướng quân hòa thuận thì kẻ sĩ sẽ quy phục; kẻ sĩ quy phụ thì dù thiên hạ có biến, quyền lực cũng không chia rẽ; quyền không chia, vận mệnh xã tắc sẽ nằm trong tay hai người mà thôi.
Ta cũng từng muốn khuyên Giáng hầu Chu Bột, nhưng ông ta cứ lấy ta ra làm trò đùa, chẳng coi lời ta là nghiêm túc. Vậy sao Thừa tướng không làm thân với ông ấy?
Nghe thế, Trần Bình liền sai người chuẩn bị năm trăm cân vàng, lấy cớ mừng thọ để đem biếu Chu Bột. Chu Bột cũng hồi lễ trọng hậu. Từ đó, quan hệ giữa hai người ngày càng thân thiết.
Cả Chu Bột lẫn Trần Bình đều cảm tạ Lục Giả, bèn ban cho ông một trăm nô tỳ cùng xe ngựa, vàng bạc, lễ vật quý giá.
