Ngày mùng 5 tháng Bảy năm 617, Lý Uyên dẫn ba vạn tướng sĩ khởi binh từ Thái Nguyên, dự tính sẽ chiếm lấy Quan Trung để tranh đoạt thiên hạ. Nhưng quân Tùy chống cự vô cùng ngoan cố, lại thêm trời mưa như trút nước, kéo dài không dứt. Đến cuối tháng Bảy, lương thảo đã cạn. Đúng lúc ấy lại lan truyền tin đồn rằng Đột Quyết sắp tiến công Tấn Dương.
Lý Uyên ra lệnh rút quân, một phần vì lo Tấn Dương bị tập kích, một phần vì lương thảo thiếu hụt. Thế nhưng có lẽ Lý Uyên không lường trước được rằng: tạo phản là việc mạo hiểm tột bậc. Không chỉ bản thân ông phải gánh rủi ro lớn, mà toàn bộ tướng sĩ đi theo cũng đều đang đặt cược sinh mệnh của mình.
Thành công thì trở thành khai quốc công thần, được thăng quan tiến tước, thất bại thì bị gọi là nghịch tặc, thậm chí sẽ bị tru di cửu tộc. Bởi vậy, nhất là thuở ban đầu khởi sự, nếu muốn củng cố quân tâm, thì chỉ có thể tiến chứ không được lùi, và nhất định phải giành được thắng lợi. Một khi bỏ dở giữa đường, để người ta cảm thấy theo ông sẽ chẳng có tiền đồ, thì tướng sĩ tất sẽ đào ngũ.
Vì vậy Lý Thế Dân đã hết lời can gián, tìm cách ngăn Lý Uyên rút quân. Nhưng quân lệnh đã ban ra, một bộ phận đại quân cũng đã xuất phát.
Khi Lý Thế Dân đến trước đại trướng của Lý Uyên thì trời đã tối, Lý Uyên đã đi ngủ. Không thể vào được, Lý Thế Dân đứng ngoài trướng mà khóc đau đớn. Lý Uyên nghe thấy, bèn cho gọi vào.
Lý Thế Dân thưa:
“Chúng ta vì chính nghĩa mà xuất binh. Tiến lên chiến đấu thì sẽ giành thắng lợi, rút lui thì quân sẽ tan rã. Lúc này nếu đại quân nhà Tùy đuổi theo sau, thì cái chết đã ở ngay trước mắt — làm sao mà không đau lòng cho được?”
Lý Uyên bỗng nhiên tỉnh ngộ, ông hỏi:
“Quân đã xuất phát cả rồi, biết làm sao bây giờ?”
Lý Thế Dân đáp:
“Hữu quân vẫn chưa đi, còn tả quân thì mới rời đi không xa. Con có thể đuổi theo để gọi họ quay lại.”
Lý Uyên mỉm cười nói:
“Thành bại của ta, đều trông cậy vào con cả. Con hãy làm đi.”
Lập tức, Lý Thế Dân và Lý Kiến Thành chia đường đi đuổi theo tả quân, gọi họ quay lại. Đúng lúc ấy, lương thảo từ Thái Nguyên cũng đã vận chuyển đến nơi. Trời đất như thuận lòng người: ba ngày sau mưa tạnh, trời quang đãng.
Lý Uyên bèn ra lệnh tấn công cánh quân của Tống Lão Sinh. Lý Thế Dân biết Tống Lão Sinh là kẻ khinh địch và tính khí nóng nảy, nên đã dùng kế dụ địch xuất chiến, ông chỉ dẫn theo vài chục kỵ binh đến trước thành, làm bộ như muốn bao vây, rồi lớn tiếng mắng nhiếc Tống Lão Sinh.
Tống Lão Sinh nổi giận đùng đùng, lập tức dẫn ba vạn quân từ cửa Đông và cửa Nam xông ra nghênh chiến. Lý Uyên lập tức lệnh cho Ân Khai Sơn đem hậu quân xông lên, hai bên giao tranh vô cùng ác liệt.
Lý Thế Dân tự tay chém hàng chục kẻ địch, máu quân Tùy tràn cả vào tay áo. Ông vung mạnh tay hất máu ra rồi lao vào đánh tiếp, đến mức hai thanh đao đều mẻ hết cả lưỡi. Tống Lão Sinh đại bại và bị chém ngay tại trận. Quân của Lý Uyên tràn tới chân thành, vì không có cơ giới công thành, nên họ chỉ có thể đánh giáp lá cà. Với sự dũng mãnh của nghĩa quân, cuối cùng họ cũng chiếm được Hoắc Ấp (nay thuộc huyện Hoắc, Sơn Tây).
Trong một tháng tiếp theo, Lý Uyên tiến quân vô cùng thuận lợi, các thành trì trên đường tiến công, hoặc là bị công phá, hoặc là tự xin hàng, và nhiều đội nghĩa quân khắp nơi cũng lần lượt kéo đến, quy phục Lý Uyên.
Khi đại quân của Lý Uyên vượt sông Hoàng Hà, dân cư hai bờ đều tự nguyện dâng thuyền, giúp nghĩa quân vượt sông. Đến đầu tháng Chín, quân của Lý Uyên đã bao vây thành Hà Đông (nay thuộc Vĩnh Tế, Sơn Tây). Lúc này, Khuất Đột Thông đứng trên thành mà cố thủ. Khuất Đột Thông chính là Tả Vũ Hầu Đại tướng quân của nhà Tùy, phẩm hàm Chánh tam phẩm.
Lý Uyên đóng quân trước thành Hà Đông, vì thành này rất kiên cố nên ông đã bị cầm chân rất lâu. Lý Uyên đối diện với hai lựa chọn:
- Đánh hạ Hà Đông, rồi mới tiếp tục tiến về Trường An;
- Vòng qua Hà Đông, tiến thẳng đánh Trường An.
Bùi Tịch cho rằng nếu tấn công Trường An mà không thuận lợi, lúc rút quân sẽ bị Hà Đông chặn đầu và Trường An truy kích phía sau, vô cùng nguy hiểm; vì thế bắt buộc phải chiếm được Hà Đông trước. Thế nhưng Lý Thế Dân lại cho rằng không nên như vậy, vì binh pháp chú trọng thần tốc, cần nhân lúc Trường An chưa kịp chuẩn bị mà đánh chiếm ngay.
Lý Uyên thấy cả hai bên đều có lý, nên đã quyết định chia quân làm hai phần: một phần giao cho Lưu Văn Tĩnh chỉ huy, tiếp tục bao vây Hà Đông, các cánh quân còn lại thì vòng qua Hà Đông, tấn công Trường An.
Sự lo lắng của Bùi Tịch quả thật cũng có lý. Khi Lý Uyên tiến đánh Trường An, Khuất Đột Thông đã chuẩn bị xuất quân cứu viện, nhưng bị quân của Lưu Văn Tĩnh chặn lại.
Trong khi đó, Lý Thế Dân men theo bờ bắc sông Vị mà tiến quân, công phá các thành trì dọc đường, còn Lý Uyên thì tiến dọc bờ nam, hai cánh quân đánh đâu thắng đó, thế như chẻ tre.
Khi Lý Uyên khởi binh ở Thái Nguyên, con rể của ông là Sài Thiệu — cũng từ Trường An chạy đến Thái Nguyên. Trước lúc xuất phát, Sài Thiệu nói với thê tử Lý thị rằng:“Phụ vương nàng đã tạo phản. Ta mang theo nàng thì không tiện, mà để nàng lại thì sợ gặp nguy hiểm. Biết làm sao đây?”
Lý thị vốn là bậc nữ trung hào kiệt, bà đáp rằng: “Chàng đừng lo cho thiếp. Hãy cứ đi con đường mà chàng phải đi. Thiếp là phận nữ nhân, sẽ dễ bề ẩn náu hoặc trốn thoát.”
Sài Thiệu vừa đi, Lý thị lập tức bán toàn bộ gia sản rồi chiêu mộ binh lính. Bà lại còn quy phục được một số đội quân khởi nghĩa, cùng kéo đến nương nhờ Lý Thần Thông — là đường huynh của Lý Uyên — tập hợp được khoảng một vạn người. Không chỉ vậy, Lý thị còn đích thân dẫn quân tấn công một số thành ấp ở Thiểm Tây, lực lượng nhanh chóng phát triển lên đến bảy vạn quân.
Lúc này, quân của Lý Uyên cũng đã vượt sông Hoàng Hà. Lý thị hội quân với Lý Thế Dân, trao toàn bộ bảy vạn quân cho ông thống lĩnh, còn mình thì dẫn hơn một vạn tinh binh, mang danh “Nương tử quân”, cùng họ xông pha chiến trận.
Đến ngày mười bốn tháng Mười, Lý Uyên dẫn hai mươi vạn đại quân bao vây Trường An. Đến mùng 9 tháng Mười Một, Trường An bị công phá.
Lúc ấy, Đại vương Dương Hựu đang ở Đông Cung, thuộc hạ xung quanh đều bỏ trốn, chỉ còn Thị độc Diêu Tư Liêm ở lại bên cạnh. Thị độc là người hầu cận, phụ trách việc đọc sách và giảng giải cho hoàng tử.
Diêu Tư Liêm vốn là một nhà sử gia, ông là tác giả của hai bộ trong Nhị thập tứ sử: là “Lương thư” và “Trần thư”, ông cũng là một trong Thập bát học sĩ nổi danh đời Trinh Quán. Tuy là văn nhân, nhưng khi biến loạn xảy đến, Diêu Tư Liêm giữ thái độ vô cùng trầm tĩnh.
Khi quân Lý Uyên chuẩn bị bước lên điện, Diêu Tư Liêm quát lớn: “Đường Công khởi nghĩa là để phù trợ hoàng thất, các người không được vô lễ!”
Binh sĩ đều sững sờ, không ai dám bước thêm, đành phải đứng lại dưới sân. Đúng lúc đó, Lý Uyên bình tĩnh tiến đến, ông nhã nhặn rước Đại vương Dương Hựu từ Đông Cung sang Đại Hưng điện, còn mình thì tạm sống ở Trường Lạc cung. Lý Uyên lại đưa ra 12 điều ước pháp với dân, bãi bỏ toàn bộ luật lệnh hà khắc của nhà Tùy — điều này rất giống với Ước pháp Tam chương của Lưu Bang khi năm xưa tiến vào Hàm Dương.
Đến đây, Lý Uyên đã hoàn toàn chiếm cứ Quan Trung. Sau đó, ông thu phục vùng đất Ba Thục mà không gặp phải sự kháng cự nào đáng kể. Cục diện lúc này nghiêng hẳn về phía Lý Uyên.
Tất nhiên, thắng lợi của Lý Uyên cũng phần nào nhờ công của Lý Mật. Khi đó, Lý Mật đang cố thủ ở Đông Đô, giao tranh quyết liệt với quân Tùy, khiến chủ lực của quân Tùy không thể từ phía đông hoặc phía nam tấn công Lý Uyên. Nhờ đó, Lý Uyên có thể yên tâm tiến thẳng về phía tây, không phải lo ngại gì ở hậu phương.
Ngày 15 tháng 11, tức là chỉ sáu ngày sau khi Lý Uyên chiếm được Trường An, ông tôn Dương Hựu lên làm Hoàng đế. Khi ấy Dương Hựu mới 13 tuổi. Niên hiệu được đổi thành Nghĩa Ninh, lập tức ban chiếu đại xá thiên hạ. Rồi Lý Uyên tôn ông nội của Dương Hựu là Dương Quảng lên làm Thái thượng hoàng.
Đến ngày 17, Dương Hựu phong Lý Uyên làm Đường Vương, ban cho hoàng việt và phù tiết — đây là hai biểu trưng tối cao của đế quyền. Đồng thời bổ nhiệm Lý Uyên giữ các chức như: Thượng thư lệnh (đứng đầu toàn bộ cơ quan hành chính), Đại thừa tướng (chức vụ tể tướng tối cao), Đại Đô đốc nội ngoại chư quân sự — tổng chỉ huy quân sự cao nhất của quốc gia.
Đến ngày 19, triều đình lại hạ chiếu: trừ những việc tế Trời Đất và tế miếu tổ tông, còn lại mọi việc trong thiên hạ đều giao cho Lý Uyên quyết định. Như vậy, vào thời điểm này, Lý Uyên thực chất chỉ còn cách ngai vàng một bước.
Ngày 22 tháng 11, Lý Uyên lập Lý Kiến Thành làm Đường Thế tử, phong Lý Thế Dân làm Kinh Triệu Doãn và phong tước Tần Công, còn Lý Nguyên Cát được phong làm Tề Công.
Khi Lý Uyên tiến vào Trường An, thì Khuất Đột Thông vẫn đang cố thủ ở Hà Đông. Khuất Đột Thông cảm thấy tình thế không thể cứu vãn nữa, bèn định bỏ thành, chạy sang Đông Đô để nương nhờ Việt vương Dương Đồng. Khuất Đột Thông để Tang Hiển Hòa tiếp tục trấn giữ Hà Đông. Nhưng ngay khi Khuất Đột Thông rời đi, Tang Hiển Hòa lập tức đầu hàng. Sau khi quy thuận, ông cùng Lưu Văn Tĩnh đuổi theo Khuất Đột Thông.
Khi đuổi kịp, Tang Hiển Hòa khẩn khoản nói với Khuất Đột Thông rằng: “Thuộc hạ của ngài đều là người Quan Trung, hà tất phải chạy sang Đông Đô?”
Vốn dĩ tướng sĩ dưới quyền Khuất Đột Thông không muốn đi về phía đông, nên tất cả đều xuống ngựa đầu hàng.
Kết quả chỉ còn lại một mình Khuất Đột Thông. Ông xuống ngựa, quay mặt về hướng Đông Nam — hướng tới Dương Châu, nơi Dương Quảng đang ở. Khuất Đột Thông quỳ lạy dập đầu, ông nói: “Hoàng thượng, thần đã tận lực rồi, bây giờ thật sự không còn đường thoát.”
Nói xong, Khuất Đột Thông cũng đầu hàng.
Khuất Đột Thông là một danh tướng thiện chiến, nên Lý Uyên phong ông làm Binh bộ Thượng thư, về sau trở thành khai quốc công thần của Đại Đường.
