Vào năm 154 trước Công nguyên, Triều Thố dâng lên Hán Cảnh Đế bản Tấu sớ bàn về việc cắt đất chư hầu. Khi còn là Thái tử, Cảnh Đế đã rất khâm phục tài năng và học vấn của Triều Thố, nên sau khi lên ngôi, ông liên tục thăng chức cho Triều Thố. Đối với kế sách của Triều Thố, Hoàng đế hoàn toàn tin tưởng và làm theo.
Tuy nhiên, việc thi hành chính sách cắt đất chư hầu đã dẫn đến một cuộc phản loạn khiến thiên hạ chấn động.
Trong quá trình khuyên Hán Cảnh Đế thực hiện chính sách cắt đất chư hầu, Triều Thố đã đắc tội với rất nhiều người.
Trước hết, các chư hầu bị tước đất đương nhiên là phản đối. Các đại thần trong triều cũng cho rằng Triều Thố đang “rảnh việc gây chuyện”, không khéo mà rước họa. Ngay cả người trong nhà Triều Thố cũng kịch liệt phản đối ông.
Cha của Triều Thố đích thân từ quê nhà ở Dĩnh Xuyên lặn lội đến kinh thành để gặp Triều Thố. Ông cụ khuyên rằng:
“Bên ngoài dư luận đang dậy sóng, ai nấy đều mắng ngươi, bảo ngươi chuyên bày kế xấu cho Hoàng thượng, chia rẽ tình cảm giữa vua và các vương huynh. Nếu ngươi cứ làm như vậy, sau này nhà họ Triệu chúng ta sẽ gặp họa diệt môn.”
Triều Thố đáp:
“Phụ thân, nếu không làm vậy, thiên hạ nhà họ Lưu sẽ không còn an toàn.”
Cha ông liền nói:
“Nếu nhà họ Lưu được an toàn, thì nhà họ Triệu ta sẽ gặp nguy hiểm.”
Sau khi rời khỏi chỗ con trai, ông cụ nói một câu nghẹn ngào:
“Ta không nỡ nhìn thấy tai họa giáng xuống gia tộc chúng ta.”
Nói rồi, ông uống thuốc độc tự vẫn.
Chỉ hơn mười ngày sau cái chết của cha Triều Thố, Ngô vương Lưu Tỵ liên kết với Sở vương Lưu Vũ, Triệu vương Lưu Toại, cùng các chư hầu khác như Giao Tây vương, Giao Đông vương, Tề Nam vương, Tề Xuyên vương, đồng loạt nổi dậy tạo phản. Cuộc nổi loạn này được sử sách gọi là Loạn Thất Quốc, hay còn gọi là Loạn Ngô – Sở Thất Quốc.
Khi cuộc phản loạn bùng nổ, quân lực vô cùng hùng hậu, vì thực chất đây là sự liên minh của các thế lực tương đương với Ngô, Sở, Triệu, Tề thời Xuân Thu Chiến Quốc – cùng lúc nổi dậy chống lại triều đình. Triều đình trung ương khi ấy lâm vào tình thế vô cùng nguy cấp.
Ngô vương Lưu Tỵ còn ban bố lệnh tổng động viên rằng:
“Trẫm năm nay đã sáu mươi hai tuổi, đứa con út mới mười bốn. Cả hai cha con đều ra chiến trường thân chinh. Vậy thì trong lãnh thổ nước Ngô, hễ ai lớn hơn con ta mà nhỏ hơn ta, tất cả đều phải nhập ngũ.”
Chỉ trong thời gian ngắn, nước Ngô đã tập hợp được hơn hai mươi vạn quân phản loạn.
Khi chiến tranh bùng nổ, quân Ngô xuất phát từ Quảng Lăng (nay thuộc Dương Châu, tỉnh Giang Tô), tiến quân lên phía Bắc vượt sông Hoài. Quân Sở thì khởi binh từ Bành Thành (nay là Từ Châu, Giang Tô). Sau khi hai cánh quân hội hợp, họ tiến về phía Tây, mở cuộc tấn công vào nước Lương.
Lương vương khi ấy là Lưu Vũ, là em trai của Hán Cảnh Đế.
Liên quân Ngô – Sở đã đánh một trận lớn tại Cức Bích (nay thuộc huyện Ninh Lăng, tỉnh Hà Nam), giết chết hàng vạn binh lính nước Lương, buộc Lương vương phải rút lui về cố thủ tại Tùy Dương (nay là Thương Khâu, Hà Nam).
Khi tin chiến sự truyền đến kinh thành, thấy quân phản loạn thế mạnh như vũ bão, Hán Cảnh Đế không khỏi lo lắng. Lúc này ông mới 35 tuổi, ông liền bắt đầu cân nhắc kế hoạch dẹp loạn — dĩ nhiên, người đầu tiên ông tìm đến để hỏi ý kiến chính là Triều Thố.
Nhưng phản ứng của Triều Thố lại khiến người ta hoàn toàn bất ngờ.
Bởi vì trước đó, khi dâng Tấu sớ cắt đất chư hầu, Triều Thố từng nói một câu rất rõ ràng với Cảnh Đế rằng:
“Nay có tước đất, họ cũng phản. Không tước đất, họ cũng phản.”
Ý là: Dù Hoàng thượng có cắt đất hay không thì bọn họ cũng sẽ tạo phản. Nhưng nếu tước đất ngay bây giờ, họ phản ứng vội vàng, chưa kịp chuẩn bị kỹ, thì tai họa sẽ nhỏ. Còn nếu không tước đất, để họ có thời gian chuẩn bị kỹ càng rồi mới nổi loạn, thì lúc đó lực lượng sẽ mạnh hơn rất nhiều, sẽ càng khó đối phó.
Như vậy, từ lập luận của Triều Thố, dường như ông đã tiên liệu trước việc các chư hầu sẽ tạo phản. Mà đã biết trước như vậy, thì từ bố trí quân sự, thu thập tình báo, chuẩn bị lương thảo, cho đến việc chọn tướng lĩnh, lẽ ra Triều Thố phải có sẵn một kế hoạch tổng thể.
Thế nhưng, khi Cảnh Đế hỏi đến, Triều Thố lại hoàn toàn sững sờ, không có bất kỳ kế hoạch nào cả. Ông hoàn toàn chưa hề nghĩ tới những việc đó.
Điều đó cho thấy, Triều Thố không phải là một nhà chính trị thực thụ. Ông chỉ giỏi bàn luận, nhưng khi bước vào thực tiễn thì lộ rõ sự non nớt.
Vậy phải làm sao?
Triều Thố liền liên tục đưa ra cho Cảnh Đế ba kế sách tồi tệ…
Kế sách tồi tệ đầu tiên mà Triều Thố đưa ra là đề nghị Hán Cảnh Đế thân chinh ra trận.
Khi Ngô – Sở thất quốc tạo phản, họ giương cao khẩu hiệu:
“Tru Triều Thố, thanh quân trắc” –
tức là “giết Triều Thố, thanh trừng gian thần bên cạnh Hoàng đế”.
Cái gọi là “thanh quân trắc” (清君侧) chính là cách nói muốn dọn sạch bọn tiểu nhân bên cạnh quân vương, mà “tiểu nhân” ở đây, chính là Triều Thố.
Triều Thố đề xuất để Hoàng đế thân chinh, có lẽ là để chặn miệng quân phản loạn — ngụ ý rằng: “Các ngươi bảo Hoàng thượng bị ta thao túng à? Vậy nhìn đi, chính ngài đang tự mình cầm quân đánh các ngươi đấy!”
Nhưng đây thực chất là một ý tưởng vô cùng tồi tệ. Vì loạn Thất Quốc này chính là do Triều Thố khởi xướng việc tước phiên, nên người phải ra mặt giải quyết, lẽ ra phải là ông. Cách làm đúng phải là:
“Hoàng thượng, loạn này là do thần khởi, thần xin chịu trách nhiệm, đích thân ra tiền tuyến chỉ huy.”
Nếu thắng, Triều Thố sẽ trở thành công thần dẹp loạn. Nếu thua, cũng là liệt sĩ hy sinh vì nước — một kết cục không nhục mà còn vẻ vang.
Nhưng khi Cảnh Đế nghe ông đề nghị Hoàng đế thân chinh, liền kinh hãi. Ông hỏi:
“Vậy khanh thì sao?”
Triều Thố trả lời:
“Thần ở lại kinh thành trấn thủ.”
Ai cũng biết, ra trận là việc nguy hiểm nhất. Ngay như Hán Cao Tổ Lưu Bang, từng bị Hạng Vũ bắn trúng ngực bằng tên; sau đó khi đánh Hoài Nam vương Anh Bố cũng bị thương do trúng tên. Chiến trường vốn là nơi hung hiểm.
Vậy mà Triều Thố lại muốn đẩy Hoàng đế ra tuyến đầu — là nơi nguy hiểm nhất, còn bản thân thì ngồi an toàn tại hậu phương — như vậy sao có thể chấp nhận được?
Chính điều này đã gieo mầm rạn nứt giữa Cảnh Đế và Triều Thố.
Kế sách tồi tệ thứ hai, Triều Thố đề nghị:
“Hiện giờ quân Ngô – Sở còn chưa chiếm được hai thành: Từ Thành và Đồng Thành. Vậy thì chúng ta nên cắt hai thành đó giao cho họ, để dàn xếp êm đẹp, tránh xung đột thêm.”
Đây là đề nghị càng vô lý hơn nữa.
Bởi vì mục tiêu của việc tước phiên vốn là cắt giảm lãnh thổ các chư hầu, thế mà giờ chưa đánh đã nhường đất, chẳng khác nào tự phủ nhận toàn bộ lập luận ban đầu. Khi đọc lịch sử đến đoạn này, chúng ta ta cũng không hiểu nổi Triều Thố đang nghĩ gì, cả chuỗi logic đều rối loạn và mâu thuẫn.
Có lẽ chính ông cũng bị quýnh khi gặp chuyện bất ngờ này, nên đầu óc không còn tỉnh táo chăng.
Kế sách tồi tệ thứ ba, là việc Triều Thố đề nghị xử tử đại thần Viên Áng. Việc này hoàn toàn không có lý do chính đáng, thuần túy là tư thù cá nhân.
Triều Thố và Viên Áng vốn có hiềm khích sâu sắc từ trước. Tất nhiên, Triều Thố cũng có cách giải thích cho đề xuất của mình. Ông nói:
“Viên Áng trước đây từng làm tướng quốc tại nước Ngô.”
Ý là: hắn từng làm quan lớn dưới trướng Lưu Tỵ, có thể có mối quan hệ thân cận và ủng hộ cuộc phản loạn.
Nhưng dù có biện minh ra sao, người ta vẫn nhìn ra được đây là hành động trút giận cá nhân, chứ không phải một sách lược vì đại cục.
Lưu Bang khi lập quốc đã phong chức cho rất nhiều thân vương mang họ Lưu, nhưng có một quy định rất rõ ràng: mỗi nước chư hầu họ Lưu đều phải có một vị “Tướng quốc” – tức người đứng đầu chính phủ nước đó – do triều đình trung ương chỉ định.
Viên Áng là một người chính trực, đến mức trong Sử ký cũng chép rằng ông là người “vì đại nghĩa mà khảng khái, việc gì nên làm, ông đều công khai nói rõ”. Ngay cả khi Hoàng đế làm sai, ông cũng không ngại chỉ trích công khai.
Vì tính cách thẳng thắn ấy, quan hệ của Viên Áng với các đồng liêu trong triều cũng không mấy tốt đẹp, nên rất khó trụ lại lâu dài trong chính quyền trung ương. Sau này, Cảnh Đế phái ông đi làm Đô úy quận Long Tây.
Viên Áng đối đãi với binh lính rất tốt, đến mức “quân sĩ tranh nhau vì ông mà liều chết” — ai cũng sẵn sàng hy sinh vì ông.
Sau đó, ông được điều làm Tướng quốc nước Ngô, khi ấy Ngô vương chính là Lưu Tỵ.
Trước khi đi, cháu trai của ông là Viên Chủng đã khuyên rằng:
“Thưa thúc, Lưu Tỵ là người rất khó đoán. Không ai hiểu nổi hắn đang nghĩ gì hay định làm gì, xem chừng có khả năng sẽ tạo phản. Thúc lại là người chính trực, chắc chắn sẽ không hợp với ông ta. Nếu thúc cứ giữ nguyên đạo nghĩa mà xử sự, thì chỉ có hai khả năng: Một là hắn cho người ám sát thúc; Hai là hắn sẽ vu cáo thúc với triều đình. Dù thế nào thì cũng chẳng có kết cục tốt đẹp.”
Viên Áng hỏi:
“Vậy ta nên làm gì?”
Viên Chủng nói:
“Nước Ngô nóng nực, ẩm thấp. Sau khi đến đó, mỗi ngày thúc chỉ nên uống rượu, đừng can dự vào việc gì cả. Nếu có ai hỏi rằng Ngô vương có ý tạo phản hay không, thì thúc chỉ cần nói: ‘Đãn thuyết Ngô vương vô phản tắc dĩ.”
Thế nhưng, chữ “Thuyết” “說” trong Hán ngữ cổ có hai cách hiểu:
- Nếu đọc là shuì, nghĩa là khuyên bảo Ngô vương đừng tạo phản.
- Nếu đọc là shuō, nghĩa là nói với người khác rằng Ngô vương không có ý tạo phản.
Sau đó, Viên Áng tới nước Ngô, mỗi ngày chỉ uống rượu. Ai hỏi gì, ông cũng chỉ đáp:
“Không sao cả, không có gì đâu.”
Nhờ vậy, quan hệ giữa ông và Lưu Tỵ lại rất tốt, ông làm Tướng quốc vài năm rồi rời nhiệm sở, trở về. Lúc này, Triều Thố đã được thăng làm Ngự sử đại phu, phụ trách giám sát quan lại toàn triều — chuyên điều tra các hành vi bất chính của bá quan.
Triều Thố rất ghét Viên Áng. Khi Viên Áng vừa trở về, Triều Thố liền bắt đầu điều tra và cáo buộc rằng ông nhận nhiều của hối lộ từ Lưu Tỵ khi làm Tướng quốc ở nước Ngô.
Tất nhiên, Viên Áng đã nhận tiền. Vì nếu không nhận tiền từ Lưu Tỵ, có khi lại làm ông ta nghi ngờ, khi đó sẽ bị Lưu Tỵ thủ tiêu. Nhưng Triều Thố vẫn tấu chương luận tội Viên Áng, khiến Hán Cảnh Đế giáng ông xuống làm thứ dân.
Vì vậy, khi loạn Thất Quốc nổ ra, Viên Áng chỉ còn là một người dân thường.
Lúc này, Ngô vương đã thực sự tạo phản, Triều Thố liền nói:
“Tên Viên Áng ấy trước kia suốt ngày miệng nói Ngô vương không phản. Nay Ngô vương phản rồi, chẳng phải chứng minh Viên Áng là đồng đảng sao? Vậy hãy xử tử hắn để răn đe. Giết hắn xem phản quân bên kia phản ứng thế nào.”
Thế nhưng, người dưới quyền nói với ông:
“Nếu Ngô vương chưa tạo phản, mà ông giết Viên Áng, thì còn có lý do để xem phản ứng ra sao. Nhưng giờ Ngô vương đã phản rồi, mà Viên Áng lại chỉ là một dân thường, giết ông ấy còn có ý nghĩa gì nữa?”
Triều Thố lúc đó bắt đầu do dự. Nhưng không rõ vì sao, tin tức này đã lọt đến tai Viên Áng…
