Đậu Kiến Đức khởi binh vào năm 611. Trải qua hơn 5 năm chinh chiến, ông liên tiếp đánh bại quân đội triều Tùy và thôn tính nhiều đội quân khác, binh lực dưới trướng tăng lên đến hơn mười vạn người. Tháng Giêng năm 617, Đậu Kiến Đức xưng là Trường Lạc Vương, đến năm 618 thì lập nên nước Hạ, đổi niên hiệu là Ngũ Phụng.
Sau đó, Đậu Kiến Đức tiêu diệt Vũ Văn Hóa Cập, lại nhiều lần đánh bại quân Đường, chiếm cứ vùng Hà Bắc như hổ rình mồi. Nay Đậu Kiến Đức đem hơn mười vạn đại quân tiến xuống, cứu viện cho Vương Thế Sung.
Đậu Kiến Đức nghe theo kế nghị của mưu thần, dự định trước tiên liên thủ với Vương Thế Sung để đánh bại quân Đường, rồi sau đó sẽ thôn tính luôn lực lượng của Vương Thế Sung, để có thể tranh thiên hạ. Đậu Kiến Đức chỉ để lại rất ít tướng lĩnh trấn thủ doanh trại, còn bản thân thì thúc quân tiến đánh liên tiếp, lần lượt chiếm được các vùng Quản Châu, Huỳnh Dương, Dương Trạch. Thủy quân và lục quân cùng tiến, phối hợp với nhau, thuyền bè chở lương thực ngược theo dòng Hoàng Hà mà đi về phía tây.
Lúc này, quân Đường rơi vào thế trước sau đều bị uy hiếp. Khi Đậu Kiến Đức đánh hạ được Huỳnh Dương, ông ta đã ở ngay phía đông Tỷ Thủy, đối diện với quân Đường ở mạn tây. Phía đông Tỷ Thủy Quan là quân của Đậu Kiến Đức; phía tây là quân của Đại Đường.
Tỷ Thủy Quan còn có một tên gọi khác là Hổ Lao Quan — đây là nơi được nhắc đến trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, nổi tiếng với trận “Tam anh chiến Lữ Bố”. Về sau, để tránh phạm húy tổ phụ của Đường Cao Tổ Lý Uyên là Lý Hổ, nên Hổ Lao Quan được đổi tên thành Vũ Lao Quan.
Khi quân của Đậu Kiến Đức đứng ở phía đông Tỷ Thủy, quân Đường ở phía tây, điều đó có nghĩa: phía đông là Đậu Kiến Đức, phía tây là Vương Thế Sung. Tần Vương Lý Thế Dân bị ép vào một cục diện là “bụng trước lưng sau đều là địch”.
Đậu Kiến Đức gửi thư cho Lý Thế Dân, yêu cầu quân Đường rút lui về Đồng Quan và trả lại toàn bộ đất đai đã chiếm của Vương Thế Sung. Nhận được thư, Lý Thế Dân triệu tập các tướng lĩnh để bàn bạc. Mọi người đều chủ trương nên tránh mũi nhọn của Đậu Kiến Đức, các tướng như Tiêu Vũ, Khuất Đột Thông và Phong Đức Di, đều giữ quan điểm như vậy.
Nhưng Lý Thế Dân lại có nhận định khác, ông cho rằng: hiện tại quân của Đậu Kiến Đức thừa thắng xông tới, sĩ khí rất cao, binh lính kiêu ngạo. Chỉ cần cố thủ tại Hổ Lao Quan, nếu kẻ địch liều lĩnh tấn công, việc đánh bại chúng sẽ rất dễ; còn nếu hắn thận trọng không giao chiến, thì phía Vương Thế Sung cũng chẳng cầm cự nổi lâu vì lương thảo đã kiệt quệ. Cùng lắm một tháng là thế lực của Vương Thế Sung sẽ tự sụp đổ. Khi đó, quân Đường có thể tập trung toàn lực để đối phó với Đậu Kiến Đức.
Ngược lại, nếu quân Đường do dự không hành động sớm, để Đậu Kiến Đức chiếm được Hổ Lao Quan, thì những thành trì của Vương Thế Sung vừa mới quy thuận nhà Đường, rất có thể sẽ quay giáo phản bội, chạy sang hàng Đậu Kiến Đức. Đến lúc họ Vương và họ Đậu liên thủ, quân Đường sẽ không còn hy vọng thắng được nữa.
Vì vậy, Lý Thế Dân ra lệnh chia quân làm hai đường, giao cho Lý Nguyên Cát tiếp tục bao vây thành Đông Đô, còn bản thân Lý Thế Dân thì dẫn theo ba nghìn năm trăm tinh binh, ngày đêm thần tốc tiến quân về phía đông, thẳng tới Vũ Lao Quan. Với những tướng đi theo như Trình Tri Tiết, Tần Thúc Bảo, chúng ta có thể thấy đội quân mà Lý Thế Dân mang theo chính là Huyền Giáp Quân, đây là lực lượng quân tinh nhuệ bậc nhất của nhà Đường.
Khi Lý Thế Dân xuất quân, Vương Thế Sung nhìn thấy động tĩnh nhưng không đoán được dụng ý, nên vẫn không dám ra khỏi thành nghênh chiến.
Đến ngày 25 tháng 3, Lý Thế Dân tiến quân tới Hổ Lao Quan. Ông dẫn năm trăm kỵ binh men theo đường phía đông để trinh sát đại doanh của Đậu Kiến Đức. Trên đường đi, Lý Thế Dân lần lượt bố trí kỵ binh ẩn nấp hai bên, còn bản thân thì chỉ mang theo bốn người cùng tiến lên phía trước, trong đó có Uất Trì Kính Đức.
Lý Thế Dân nói với Kính Đức rằng: “Ta mang cung tên, ngươi cầm sóc. Dù địch có trăm vạn đại quân, cũng không làm gì được chúng ta.” Lời nói đấy cho thấy khí thế phi thường của hai vị tướng quân, họ có võ dũng mạnh mẽ, không gì cản nổi.
Đến khi cách đại doanh của Đậu Kiến Đức khoảng chừng ba dặm, thám mã của địch đã phát hiện. Thấy tướng nhà Đường đơn độc tiến tới, quân của Đậu Kiến Đức mừng như mở cờ, họ lập tức phái năm nghìn kỵ binh đuổi theo. Lý Thế Dân không hề sợ hãi, ông cùng Uất Trì Kính Đức đi phía sau đoạn hậu, cố ý cho ngựa chạy chậm lại.
Khi kẻ địch vừa áp sát, Lý Thế Dân lập tức giương cung bắn trả. Cây cung mà Lý Thế Dân sử dụng là loại cung có lực kéo rất mạnh, mũi tên được làm bằng sắt cứng và nặng hơn thông thường. Chỉ cần người có lực kéo đủ khỏe, thì hoàn toàn có thể bắn xuyên giáp của đối phương.
Mỗi lần ông buông dây cung là một kẻ địch ngã xuống. Uất Trì Kính Đức cũng chém giết hơn mười tên. Hai người cứ vừa đánh vừa chạy, họ nhử toàn bộ kẻ địch lọt vào vòng phục kích đã bố trí từ trước. Khi quân địch vừa lọt vào trận địa mai phục, kỵ binh quân đường lập tức lao ra đánh bất ngờ. Thế là mấy nghìn kỵ binh của Đậu Kiến Đức đã bị đánh cho đại bại.
Lý Thế Dân trấn thủ Hổ Lao Quan vững như tường đồng vách thép, khiến Đậu Kiến Đức bị cầm chân suốt mấy tháng trời, không sao tiến lên được, đánh trận cũng chẳng chiếm được lợi thế. Quân sĩ của Đậu Kiến Đức bắt đầu nản lòng, ai cũng muốn rút về.
Không lâu sau, Lý Thế Dân lại cắt đứt tuyến vận lương của Đậu Kiến Đức. Thế là Đậu Kiến Đức lâm vào tình thế vô cùng khó xử.
Lúc này, có một mưu sĩ tên là Lăng Kính đã hiến kế cho Đậu Kiến Đức. Theo lời ông ta, thì nên bỏ qua Hổ Lao Quan, vòng lên phía bắc, rồi từ đó tiến thẳng về phía tây, vượt qua dãy Thái Hành Sơn, đánh xuống Quan Trung từ hướng Sơn Tây.
Kế sách này có ba lợi thế lớn. Mặc dù phải cho quân hành quân đường dài, nhưng những vùng đất đó hầu như không có quân phòng thủ, đại quân có thể tiến công rất thuận lợi. Ngoài ra, trên đường hành quân có thể thu phục thêm đất đai, dễ dàng chiêu mộ dân binh để tăng cường lực lượng. Và nếu hậu phương của nhà Đường là Quan Trung bị tập kích, Lý Thế Dân buộc phải dẫn quân về ứng cứu, vòng vây Lạc Dương tự khắc sẽ được hóa giải.
Quả thực đây là một kế sách rất cao minh, nhưng Đậu Kiến Đức hoàn toàn không nghe. Bởi lẽ mục tiêu thật sự của Đậu Kiến Đức không phải là cứu Vương Thế Sung để chia ba thiên hạ, mà là muốn lợi dụng tình thế này để đánh bại cả nhà Đường và Trịnh, nhằm chiếm đoạt cả thiên hạ.
Đến ngày 1 tháng 5, Lý Thế Dân dẫn quân vượt qua Hoàng Hà, tiến về phía bắc, cố ý để lại chiến mã làm mồi nhử, rồi bí mật quay lại Hổ Lao Quan. Ngày hôm sau, Đậu Kiến Đức quả nhiên đã trúng kế, ông dẫn đại quân di chuyển về hướng quân Đường, binh lính hành quân kéo dài đến hai mươi dặm.
Thấy quân của Đậu Kiến Đức đông như vậy, nhiều tướng sĩ nhà Đường trông cảnh đó thì cảm thấy sợ hãi. Lý Thế Dân chỉ mang theo vài người lên một ngọn đồi nhỏ để quan sát địa thế, rồi ông bình thản nói: “Không cần sợ. Ta đảm bảo với các ngươi, đến buổi trưa là sẽ đánh bại được kẻ địch.”
Đến giữa trưa, binh lính của Đậu Kiến Đức đã đói mệt, nhiều người ngồi bệt xuống đất, tranh nhau uống nước. Thấy thời cơ đã tới, Lý Thế Dân lệnh cho Vũ Văn Sĩ Cập đem ba trăm kỵ binh ra nhử địch, còn đại quân thì vượt qua Tỷ Thủy quan, dốc toàn lực đánh thẳng vào quân của Đậu Kiến Đức.
Lý Thế Dân dẫn theo Sử Đại Nại, Trình Tri Tiết, Tần Thúc Bảo… trực tiếp xông thẳng vào trận tuyến của địch. Đội quân xuyên phá toàn bộ trận thế, rồi dựng cao lá đại kỳ của nhà Đường ngay phía sau lưng quân của Đậu Kiến Đức.
Binh sĩ của Đậu Kiến Đức quay đầu nhìn lại thì thấy cờ của quân Đường đã phấp phới phía sau, mới biết rằng đại doanh đã mất. Thế là đội hình lập tức tan vỡ, binh sĩ chạy tán loạn. Quân Đường truy kích hơn ba mươi dặm, chém hơn ba nghìn thủ cấp.
Bản thân Đậu Kiến Đức cũng bị mũi sóc đâm cho bị thương, phải bỏ chạy và lẩn trốn ở bến nước Ngưu Khẩu. Khi quân Đường phát hiện và định đâm chết ông, Đậu Kiến Đức liền lớn tiếng kêu lên: “Đừng giết ta! Ta là Đậu Kiến Đức! Bắt sống ta sẽ lập được đại công!” Thế là ông ta đã bị bắt sống.
Khi Lý Thế Dân gặp Đậu Kiến Đức, thì lập tức trách hỏi: “Ta thân chinh đánh Vương Thế Sung, liên quan gì đến ngươi? Tại sao lại vượt biên để đến giao chiến với ta?”
Đậu Kiến Đức đáp: “Nay nếu ta không tự đến, e rằng đại quân của ngài rồi sẽ nhọc công kéo đến đánh ta.”
Sau khi quân của Đậu Kiến Đức tan tác. Những người bị bắt lên đến năm vạn. Lý Thế Dân lập tức cho giải tán họ ngay trong ngày hôm đó, ông cung cấp lương thực để tất cả hàng binh đều có thể trở về quê quán.
Ngày mùng 2 tháng 5, thế lực của Đậu Kiến Đức bị tiêu diệt. Vương Thế Sung đã mất đi hy vọng cuối cùng, nên đến ngày mùng 9 tháng 5 thì xin đầu hàng. Đậu Kiến Đức bị áp giải về Trường An để xử trảm, còn Vương Thế Sung thì bị kẻ thù cũ sát hại. Như vậy, vào năm 621, Tần vương Lý Thế Dân đã bình định xong cả hai thế lực lớn: Vương Thế Sung và Đậu Kiến Đức.
