Tập 78: Chu Á Phu dẹp tan loạn thất quốc- Ngô Sở

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 01/12/2025

Năm 154 TCN, loạn thất quốc Ngô Sở nổ ra. Sau khi Hán Cảnh Đế giết Triều Thố và cử Viên Áng đến nước Ngô để cầu hòa, vẫn không thể ngăn cản được cuộc tấn công từ phía Ngô vương. Hán Cảnh Đế buộc phải phát binh, phong Chu Á Phu làm Thái úy, thống lĩnh quân đội dẹp loạn. Vậy vì sao Cảnh Đế lại chọn Chu Á Phu?

Việc Cảnh Đế chọn Chu Á Phu thật ra là theo di mệnh của Hán Văn Đế. Vào năm Hậu Nguyên thứ sáu thời Văn Đế, tức là hai năm trước khi Văn Đế băng hà, Hung Nô đã xâm lược với quy mô lớn, đánh đến gần Trường An. Để chống lại Hung Nô, Văn Đế phái ba đạo quân: một do Tông chính Lưu Lễ chỉ huy, đóng quân ở Kích Môn; một do Chúc Tư hầu Từ Lệ chỉ huy, đóng quân tại Bá Thượng; đạo quân thứ ba do Chu Á Phu chỉ huy, đóng quân tại Tế Liễu.

Sau đó, Văn Đế thân chinh đi thăm ba doanh trại. Khi đến Bá Thượng và Kích Môn, các tướng lĩnh đều mở rộng doanh môn, tự mình ra ngoài nghênh đón hoàng đế, rồi dẫn Văn Đế vào doanh trại tham quan, cuối cùng cung kính tiễn đưa.

Nhưng khi đến doanh trại Tế Liễu, Văn Đế phát hiện doanh môn đóng chặt, binh sĩ đều mặc giáp trụ chỉnh tề, cung đã giương dây, đao rút khỏi vỏ, mũi tên hướng ra ngoài. Đội tiền quân của hoàng đế hô lớn “Thiên tử giá lâm”, binh sĩ đáp lại: “Quân đội chỉ nghe lệnh tướng quân, không biết có chiếu chỉ của thiên tử.”

Văn Đế đích thân đến nơi cũng không vào được, đành sai người mang phù tiết (tín vật của hoàng đế) đến nói với lính gác: “Xin vào bẩm báo tướng quân rằng hoàng thượng đến thăm quân.” Lúc ấy Chu Á Phu mới ra lệnh mở cửa doanh.

Khi xe của Hán Văn Đế vừa vào cửa doanh, lập tức có binh sĩ đến báo: “Tướng quân có lệnh, trong quân doanh cấm phi ngựa, kể cả xe ngựa của hoàng thượng cũng phải đi chậm.” 

Thế rồi, người đánh xe lập tức kéo chặt cương, chậm rãi đưa xe đến trước trướng trung quân.

Chu Á Phu mặc giáp trụ đầy đủ, tay cầm binh khí, đứng trước hổ trướng. Thấy hoàng đế đến, ông nói: “Thần mặc quân phục không thể quỳ, xin được lấy lễ quân đội mà chào”, nói rồi ông chắp tay cúi người.

Hán Văn Đế liền đứng dậy, tay vịn vào thanh ngang phía trước xe, nói: “Ta kính thăm tướng quân”, nghĩa là đến để thăm hỏi, động viên. 

Hành lễ xong, Hán Văn Đế ra lệnh cho xe rời khỏi doanh trại.

Lúc đó, những người đi cùng Hán Văn Đế đều hết sức kinh ngạc, họ hỏi: “Chu Á Phu sao dám đối xử với hoàng thượng như vậy?” 

Hán Văn Đế đáp: “Than ôi, đây mới thật là một vị tướng chân chính! Vừa rồi đến doanh trại ở Bá Thượng và Kích Môn, nếu có người muốn tập kích thì rất dễ thành công. Nhưng còn doanh trại Tế Liễu của Chu Á Phu, ai dám đánh lén?” 

Nói rồi, Văn Đế không ngớt lời tán thưởng.

Hai năm sau, Hán Văn Đế băng hà. Trước khi lâm chung, ông dặn Hán Cảnh Đế rằng: “Nếu sau này quốc gia gặp biến, Chu Á Phu là người có thể giao trọng trách.” 

Vì thế, Cảnh Đế phong Chu Á Phu làm Thái úy, tức là tổng chỉ huy tam quân, thực hiện đúng theo di mệnh của Văn Đế.

Sau khi được phong làm Thái úy, Chu Á Phu lập tức lên xe ra tiền tuyến. Lúc ấy, ông đã hẹn trước với quân đội: mình đi trước, quân đội theo sau, sau cùng sẽ hội quân tại Huỳnh Dương.

Khi vừa ra khỏi kinh thành chưa xa, có một người tên Triệu Thiệp đã chặn ngựa ông lại. Triệu Thiệp nói: “Ngô vương từ lâu đã có ý tạo phản, chắc chắn sẽ phái thích khách phục kích ở vùng hiểm yếu giữa núi Hàm và Miễn Trì. Nay tướng quân chỉ mang theo ít người ra tiền tuyến, nếu dọc đường gặp thích khách thì quá nguy hiểm. Tôi khuyên ngài nên đi vòng từ đây sang Lam Điền, xuôi về phía nam, rồi đi ra từ ải Vũ Quan, sau đó vòng đến Huỳnh Dương.”

Lúc bấy giờ, từ Quan Trung đến Trung Nguyên chỉ có hai con đường: một là đi qua Hàm Cốc Quan ở phía đông, hai là đi qua Vũ Quan ở phía nam. Tuy tuyến đường phía nam có vòng vèo hơn, hành trình sẽ kéo dài thêm một đến hai ngày, nhưng lại đảm bảo an toàn hơn rất nhiều cho Chu Á Phu. Vì vậy, Chu Á Phu đã nghe theo lời khuyên của Triệu Thiệp, đi vòng theo lộ trình này và bình an đến được Huỳnh Dương. Sau đó, ông sai người lục soát vùng núi Hàm và Miễn Trì, quả nhiên tìm thấy thích khách do Ngô vương phái đến.

Lúc ấy, quân Ngô xuất phát từ Quảng Lăng (tức Dương Châu, tỉnh Giang Tô ngày nay), vượt sông Hoài tiến lên phía bắc; còn quân Sở thì xuất phát từ Bành Thành (nay là Từ Châu, Giang Tô). Họ hội quân rồi bắt đầu tiến quân về phía tây. Muốn đánh vào Quan Trung, dĩ nhiên phải đi qua vùng Hà Nam. Mà vùng này khi ấy là lãnh địa của Lương vương Lưu Vũ, em trai ruột của Hán Cảnh Đế.

Ban đầu, Lương vương giao chiến với quân phản loạn của Ngô – Sở không mấy thuận lợi, tại khu vực Cức Bích đã tử thương đến mấy vạn người. Sau đó quân Hán phải rút về cố thủ tại Tuy Dương (nay thuộc Thương Khâu, Hà Nam), họ không dám xuất kích, liên tục gửi thư cầu viện về cho Hán Cảnh Đế.

Nhưng chiến lược của Chu Á Phu là để nước Lương thu hút chủ lực của quân phản loạn, còn mình sẽ vòng lên phía bắc, đánh tập hậu vào sau lưng quân địch để cắt đứt đường lương thảo. Chỉ cần nước Lương cố thủ đủ lâu để ngăn địch tiến công, thì khi hậu phương bị cắt đứt, thì liên quân Ngô – Sở sẽ rơi vào thế nguy hiểm nghiêm trọng. Trước khi xuất quân, Chu Á Phu đã báo cáo kế hoạch này với Hán Cảnh Đế, và được hoàng đế chấp thuận.

Vì vậy, sau khi Chu Á Phu đến Huỳnh Dương, ông không hề đi cứu viện Tuy Dương, mà tiếp tục tiến quân lên phía bắc. Ông dẫn quân đến một nơi gọi là Xương Ấp, nằm về phía đông bắc Tuy Dương, cách khoảng 100 km theo đường chim bay, tức là rất gần với nơi đóng quân của Lương vương. Thế nhưng Chu Á Phu vẫn kiên quyết không đến cứu viện.

Lương vương rất tức giận, lập tức gửi biểu tấu về kinh thành yêu cầu Hán Cảnh Đế ra chỉ dụ, nhưng Chu Á Phu vẫn không thay đổi. Lương vương vô cùng phẫn nộ với Chu Á Phu. May thay, các đại thần của Lương quốc là Hàn An Quốc và Trương Vũ đã chiến đấu dũng cảm, kịp thời ngăn chặn được các đợt tiến công của quân Ngô.

Chu Á Phu phái một đội kỵ binh nhẹ, vòng ra vùng hợp lưu giữa sông Hoài và sông Tứ, nhằm cắt đứt tuyến tiếp tế lương thực của quân phản loạn. Chiến lược này cực kỳ thành công. Liên quân Ngô – Sở không còn đủ lương thực để ăn, mà phía trước lại không thể đánh hạ nước Lương. Bất đắc dĩ, quân phản loạn buộc phải từ bỏ ý định công phá nước Lương, quay đầu tìm Chu Á Phu để quyết chiến.

Trận đánh quyết định diễn ra tại Hạ Ấp (nay thuộc huyện Đãng Sơn, tỉnh Giang Tô). Quân phản loạn bao vây Chu Á Phu tứ phía, tấn công dữ dội. Nhưng Chu Á Phu kiên quyết giữ vững doanh trại, không xuất chiến. Ông cứ cố thủ như vậy, kéo dài thời gian cho đến khi quân địch cạn lương mà tự bại.

Có một lần, liên quân Ngô – Sở dồn toàn lực tấn công góc đông nam doanh trại của quân Hán, có vẻ như toàn bộ chủ lực đều tập trung tại đó. Chu Á Phu nói: “Chắc chắn đây là nghi binh. Chủ lực thực sự sẽ đánh vào phía tây bắc.” Ông liền bố trí toàn bộ quân lực chờ sẵn ở góc tây bắc. Quả nhiên, đại quân của địch xuất hiện tại đó – nhưng lại không thể phá vỡ phòng tuyến.

Như vậy, tại Hạ Ấp, Chu Á Phu và liên quân phản loạn lâm vào thế giằng co. Lương thực của quân Ngô – Sở nhanh chóng cạn kiệt. Cục diện này rất giống trận chiến Huỳnh Dương thời Hán Sở tranh hùng, khi Bành Việt liên tục tập kích đường lương của Hạng Vũ từ phía sau – chiến lược giống hệt.

Ngô vương thấy quân mình đói mệt đến cực điểm, liền trong đêm dẫn vài nghìn người bỏ trốn. Sáng hôm sau, khi quân Ngô phát hiện Ngô vương đã chạy mất, toàn quân lập tức tan rã. Sở vương Lưu Vũ thì tự sát.

Ngô vương vượt sông Hoài, lui về cố thủ tại Đan Đồ (nay là Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), tập hợp tàn quân, nhưng chỉ còn hơn một vạn người. Thấy lực lượng quá yếu, ông tiếp tục rút về phương nam, hy vọng liên lạc với nước Đông Hải (nay là tỉnh Chiết Giang) để mưu đồ phục quốc. Không ngờ, triều đình nhà Hán đã bỏ ra một số tiền lớn để hối lộ quốc vương nước Đông Hải. Sau khi nhận tiền, Đông Hải vương giả vờ ra nghênh đón Ngô vương với danh nghĩa “thăm hỏi quân đội”, nhưng khi Ngô vương vừa đặt chân đến nước này thì lập tức bị bắt và xử tử.

Thế là loạn Ngô – Sở coi như bị dẹp xong. Còn quân đội nước Triệu ở phía bắc và nước Tề ở vùng đông bắc thì cơ bản chưa kịp rời khỏi lãnh thổ nước mình đã bị tiêu diệt. Chỉ trong vòng ba tháng, loạn Thất quốc Ngô – Sở đã hoàn toàn bị dập tắt.

…

Việc dẹp yên loạn Thất quốc là một vận may vô cùng lớn đối với Trung Hoa. Nếu ta nhìn lại lịch sử, từ thời Hạ, Thương, Chu cho đến thời Xuân Thu Chiến Quốc về sau, Trung Quốc tuy danh nghĩa là thống nhất, nhưng trên thực tế là luôn trong trạng thái phân liệt. Nhà Chu tuy trên danh nghĩa là thiên tử của thiên hạ, nhưng thực chất các chư hầu đều là những quốc gia độc lập.

Nhà Tần chỉ thống nhất được trong vỏn vẹn 12 năm, rồi lập tức xảy ra cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng – Ngô Quảng, thiên hạ đại loạn. Tiếp đó là chiến tranh giữa Hán và Sở, rồi lại đến việc phong vương khắp nơi cho các vương khác họ và đồng tộc. Trước khi loạn Thất quốc bùng nổ, tình trạng phân liệt là điều bình thường, còn thống nhất chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi kéo dài 12 năm.

Nhưng sau cuộc nổi loạn của liên minh Ngô – Sở, triều đình trung ương nhà Hán đã có được cơ hội quan trọng để cắt giảm thế lực của các chư hầu. Đến đời con trai của Cảnh Đế là Hán Vũ Đế, thông qua chính sách “Thôi ân lệnh”, ống đã ra lệnh cho các chư hầu chia đất phong cho các con, khiến thế lực của họ bị phân tán dần, nhà Hán đã dần dẹp sạch thế lực của các vương hầu. Từ đó, Trung Hoa mới thực sự bước vào một thời kỳ thống nhất lâu dài.

Sự thống nhất này kéo dài suốt 300 năm của hai triều Tây Hán và Đông Hán, từ đó trở đi, sự thống nhất trở thành trạng thái bình thường của Trung Quốc. Chính điều này đã tạo nên nền tảng cho khả năng tái thống nhất sau mỗi lần phân liệt trong suốt chiều dài lịch sử. Bởi vì 300 năm thống nhất của đại Hán đã khắc sâu vào tâm trí người Trung Quốc một ý thức và văn hóa về “Đại nhất thống”.

Ngược lại, nếu kết cục của loạn Thất quốc là Ngô – Sở thắng trận, thì Trung Quốc có thể sẽ quay trở lại thời Chiến Quốc, và từ đó về sau, có lẽ sẽ không còn tồn tại truyền thống “hợp lâu ắt chia, chia lâu ắt hợp” nữa. Chính vì vậy, ý nghĩa lịch sử của loạn Thất quốc thật sự vô cùng sâu xa.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tần Hoàng Hán Vũ

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>