Năm 141 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế lên ngôi, ông ban chiếu cầu hiền, tìm người tài đức để ra giúp nước. Theo ghi chép trong Tư trị thông giám, Đổng Trọng Thư đã dâng Thiên nhân tam sách, đưa ra hàng loạt chủ trương như: quân quyền thần thụ, cử hiền lương, chấn hưng giáo hóa, mở rộng Thái học… Những kiến nghị này có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống giáo dục và cách thức tuyển chọn quan lại về sau. Trong đó, quan điểm nổi tiếng nhất của Đổng Trọng Thư được khái quát bằng câu: “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”.
Trong Thiên nhân tam sách có một đoạn rất nổi tiếng. Đổng Trọng Thư viết:
“Bộ Xuân Thu đề cao đạo lý Đại Nhất Thống, đó vốn là quy luật thường hằng của trời đất, cũng là nghĩa lý thông suốt xưa nay. Nhưng hiện tại, thầy dạy mỗi người theo một đường, kẻ học mỗi người có một thuyết, trăm nhà học phái khác nhau, ý chỉ chẳng đồng. Vì thế, bề trên không giữ được sự thống nhất, pháp chế thay đổi liên miên, kẻ dưới không biết dựa vào đâu mà tuân theo.
Thần ngu dại cho rằng: tất cả học thuyết nào không thuộc Lục Nghệ, không phải đạo Khổng Tử, thì đều nên cắt đứt đi, không cho song hành nữa. Khi những lời lẽ tà vạy, lệch lạc bị loại bỏ, thì kỷ cương mới có thể thống nhất, pháp luật mới có thể sáng rõ, dân chúng mới biết đường mà theo.”
Ý nghĩa của đoạn này là: bộ Xuân Thu – một kinh điển trọng yếu của Nho gia – vốn nhấn mạnh tinh thần đại nhất thống. Nhưng tình trạng lúc bấy giờ là có nhiều thầy dạy theo những “đạo” khác nhau, người ta nêu ra nhiều quan điểm khác nhau; các học phái Bách gia mỗi bên theo một hướng.
Kết quả là tư tưởng học thuật trở nên hỗn loạn. Mà khi tư tưởng, ý thức hệ thay đổi, thì pháp chế, luật lệ cũng biến đổi theo. Ví dụ: nếu tôn sùng Pháp gia thì sẽ ban hành pháp luật nghiêm khắc; còn nếu theo Đạo gia với chủ trương “vô vi nhi trị” thì pháp lệnh sẽ thoáng lỏng. Ý thức hệ không thống nhất, pháp lệnh thay đổi liên miên, khiến dân chúng không biết rốt cuộc đâu mới là nguyên tắc bền vững cần tuân giữ.
Vì vậy, Đổng Trọng Thư kiến nghị: từ nay về sau, những học thuyết nào không nằm trong Lục nghệ và không theo học thuyết của Khổng Tử thì đều phải bãi bỏ, không theo nho gia thì không cho làm quan. Chỉ khi thống nhất tư tưởng như vậy thì pháp luật mới rõ ràng, người dân mới biết đường mà theo.
Chủ trương này về sau được khái quát bằng câu nổi tiếng là: “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật.”
Nhiều người ưa thích chính sách ấy, đặc biệt là giới học giả Nho gia. Nhưng cũng có không ít ý kiến phê phán, cho rằng đây là một hình thức chuyên chế văn hóa. Vì vậy, chúng ta sẽ cần bàn sơ lược về vấn đề này.
Chúng ta biết rằng Pháp gia cũng chủ trương thống nhất tư tưởng, nhưng cách làm thì khác. Pháp gia dùng biện pháp cưỡng chế. Trong phần Đông chu liệt quốc mà chúng tôi đã làm, khi nói về Hàn Phi Tử, đã có nhắc đến chủ trương của Pháp gia là: Không cần sách vở, chỉ lấy pháp luật làm giáo hóa; không viện dẫn lời vua xưa, chỉ lấy quan lại làm thầy.
Vì thế, Pháp gia thực hiện việc thống nhất tư tưởng bằng cách đốt sách.
Còn Đổng Trọng Thư thì muốn lấy Nho gia làm ý thức hệ chính thống của quốc gia. Việc học tập các học thuyết khác không bị coi là phạm pháp, cũng không bị trừng phạt, chỉ là không được ra làm quan.
Chính sách “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” đã để lại ảnh hưởng sâu rộng. Nho gia vốn là một hệ thống luân lý, tuy có những biểu hiện mang tính tôn giáo như miếu mạo, tế tự, nhưng cốt lõi vẫn chú trọng giáo hóa đạo đức con người, chứ không đặt nặng chuyện thiên đường hay địa ngục làm nơi quy kết thiện ác. Vì không phải là một tôn giáo xuất thế, Nho gia cũng không mang tính bài trừ khắt khe như các tôn giáo độc thần.
Nhờ lấy Nho gia làm nền tảng ý thức hệ quốc gia, Trung Hoa đã tránh khỏi con đường lấy tôn giáo làm quốc giáo, tránh được mô hình chính trị và tôn giáo hợp nhất như ở phương Tây thời trung cổ. Ngược lại, điều này còn khiến cho nhà nước Trung Hoa hình thành truyền thống khoan dung tôn giáo, tạo điều kiện cho cả Đạo giáo và Phật giáo cùng tồn tại, phát triển, rồi thịnh vượng. Cũng từ đây mà nền văn hóa Trung Hoa trở nên phong phú, rực rỡ.
Một số người cho rằng chính sách này đã dẫn đến chuyên chế văn hóa. Nhưng nếu chúng ta nhìn về nguồn gốc của văn hóa Nho gia, chứ không phải những biến tướng về sau, thì thực chất nó lại rất bao dung.
Khổng Tử từng nói: “Quân tử hòa nhi bất đồng” – nghĩa là ta có thể khác biệt, nhưng vẫn sống hòa thuận cùng nhau. Vì thế, tính chuyên chế vốn không phải lỗi của Nho học nguyên thủy. Tuy nhiên, nếu Nho học quá thịnh, nó cũng có thể kéo theo những hệ lụy, chẳng hạn như tinh thần thượng võ suy yếu. Thời Tống là ví dụ điển hình: Nho học cực kỳ phát triển, xuất hiện nhiều đại tư tưởng gia về Lý học và Tâm học, nhưng tinh thần võ dũng lại ngày càng sa sút.
Kiến nghị của Đổng Trọng Thư đã được Hán Vũ Đế đồng tình. Khi ông lên ngôi, thiên hạ đã thái bình nhiều năm, chỉ có một vài biến động ngắn, nên quốc gia lúc ấy rất phồn vinh. Đó là bởi từ thời Hán Cao Tổ Lưu Bang, nhà Hán đã chủ trương “vô vi nhi trị”, để người dân nghỉ ngơi dưỡng sức. Phương pháp này rất phù hợp để quốc gia hồi phục sau chiến tranh, nhưng nó không còn hợp lý trong thời Hán Vũ đế.
Kiểu “vô vi nhi trị” cũng đem lại hai hệ lụy, Giả Nghị trong Trị an sách từng chỉ rõ ràng: một là chư hầu cát cứ kiêu căng, hai là ngoại giao yếu kém.
Phương pháp “vô vi nhi trị” vốn là lý tưởng trị quốc của Đạo gia – Nó rất phù hợp cho một nước nhỏ, dân ít, gà chó hai nước nghe tiếng nhau, người dân sống đến già mà không qua lại với bên ngoài. Trong bối cảnh ấy, vô vi mà trị quả thực rất có hiệu quả.
Nhưng với một đại quốc trung ương tập quyền, lãnh thổ rộng lớn, dân cư đông đúc, liệu có thể vô vi mà trị hay không – đó chắc chắn là vấn đề Hán Vũ Đế phải cân nhắc.
Trong Hán thư, người ta đánh giá Hán Vũ Đế là bậc “hùng tài đại lược”. Dù chỉ mới 16 tuổi khi đăng cơ, vị thiên tử ấy đã nuôi chí lớn. Văn tài võ lược của ông đều xuất chúng: sau khi ban chiếu “tìm người hiền tài”, ông còn tự mình phê duyệt đối sách, giống như chế độ trong khoa cử đời sau; nhiều kỳ khảo thí tuyển nhân tài về sau cũng do ông trực tiếp chủ trì.
Ngoài ra, Hán Vũ đế còn ưa thích đấu với gấu, lợn rừng, phải đến khi Tư Mã Tương Như khuyên can mới thôi. Điều đó cho thấy khí chất văn võ song toàn, lại chan chứa tinh thần thanh niên hăng hái, mạnh mẽ của ông.
Bởi vậy, Hán Vũ Đế tất nhiên không thể an phận vô vi. Ông muốn: đối ngoại thì chinh phạt, mở rộng bờ cõi, đối nội thì trừ bỏ thế lực chư hầu. Những hoài bão to lớn ấy tất nhiên sẽ mâu thuẫn với chính sách “vô vi nhi trị” của Đạo gia. Tức là mâu thuẫn với chính sách trị quốc được đề ra từ thời Hán Cao Tổ Lưu Bang.
Do đó, điều trước tiên mà Hán Vũ đế cần chính là cải biến hoàn toàn ý thức hệ của quốc gia. Và trong hoàn cảnh đó, tư tưởng “Đại nhất thống” của Nho gia tự nhiên đã trở thành một cơ sở lý luận vững vàng để ông lựa chọn.
Khi Hán Vũ Đế vừa đăng cơ, trong triều đã có rất nhiều đại thần ủng hộ Nho học, thế lực cũng rất mạnh. Chẳng hạn như Thừa tướng Vệ Quán, Lang trung lệnh Vương Tăng (là người chỉ huy cấm vệ quân), còn có Đại tướng quân Đậu Anh (là tổng tư lệnh tam quân), Vũ An hầu Điền Phần, và Ngự sử đại phu Triệu Quán. Tuy có nhiều người đứng về phía Nho gia như vậy, nhưng Hán Vũ Đế vẫn không thể thực thi chính sách này. Bởi lúc ấy, Đậu Thái hoàng thái hậu – bà nội của ông – vẫn còn sống.
Chúng tôi cũng đã kể trong những tập trước, đó là vào thời Hán, thế lực ngoại thích vô cùng mạnh. Ngoại thích tức là chỉ thế lực bên họ mẹ, tức là bên họ ngoại của vua.
Đậu Thái hoàng thái hậu đứng đầu thế lực ngoại thích, bà chủ trương theo học thuyết Đạo gia. Mà cũng chính bởi vì tư tưởng vô vi nhi trị của Đạo gia, đã giúp nhà Hán từ một quốc gia tàn tạ sau chiến tranh, đã có thể trở lên giàu mạnh, kinh tế phát triển.
Trước đó, khi Hoàng Sinh và Viên Cố Sinh đã tranh luận về việc Thang – Vũ khởi nghĩa, thực chất cũng là tranh luận giữa Nho gia và Đạo gia. Viên Cố Sinh vốn là nho sinh, ông thường coi nhẹ học thuyết của Đạo gia.
Có lần, Đậu Thái hoàng thái hậu gọi ông đến và hỏi: “Quyển Lão Tử là sách thế nào?” Viên Cố Sinh đáp: “Chỉ là sách để bọn nô bộc với dân thường đọc mà thôi.”
Đậu Thái hoàng thái hậu tức giận, liền cho người ném ông vào chuồng heo rừng. Mà heo rừng là động vật ăn tạp, chúng có thể giết người nếu bị đói hoặc bị uy hiếp. Đậu Thái hoàng thái hậu muốn cho lũ heo ăn thịt Viên Cố Sinh.
May mà lúc ấy Hán Cảnh Đế chạy đến, ném cho Viên Cố Sinh một con dao. Ông liền đâm một nhát trúng tim, giết chết con lợn rừng, nhờ đó mà thoát chết. Khi ấy, Viên Cố Sinh đã hơn 70 tuổi, nhưng thân thủ vẫn rất nhanh nhẹn. Qua chuyện này có thể thấy, Đậu Thái hoàng thái hậu vốn không coi trọng Nho học, bà chỉ cho phép trong gia tộc mình theo học Hoàng Lão chi học, tức là học thuyết của Hiên viên hoàng đế và Lão tử.
Bởi vậy, khi Hán Vũ Đế muốn đề xướng Nho học thì bị thái hoàng thái hậu phản đối. Nên không thể thi hành chính sách.
Lúc đó, Ngự sử đại phu Triệu Quán và Lang trung lệnh Vương Tăng dâng kế nghị rằng: từ nay về sau, hoàng đế có việc quốc gia thì không cần phải tấu báo với Đông cung nữa. “Đông cung” ở đây tức là Trường Lạc cung, là nơi Đậu Thái hoàng thái hậu ở. Nói cách khác, họ khuyên Hán Vũ Đế hãy tự mình quyết đoán việc triều chính, không cần báo cáo cho bà.
Đậu Thái hoàng thái hậu nghe tin liền nổi giận, hạ lệnh điều tra Triệu Quán và Vương Tăng xem có tham ô, phạm pháp gì không. Quả nhiên hai người này cũng không phải cả đời trong sạch, cuối cùng phải tự sát. Đại tướng quân Đậu Anh và Thừa tướng Điền Phần cũng bị bà ra lệnh cách chức. Còn Thừa tướng Vệ Quán thì đã cáo lão về quê từ trước, nếu không e cũng khó giữ được chức.
Vì vậy, lần đầu tiên Hán Vũ Đế muốn chấn hưng Nho học đã gặp phải trở ngại lớn. Theo tính toán của ông và các đại thần, thì nếu độc tôn Nho học, thì sẽ đem lại lợi ích lớn cho quốc gia. Thế nhưng đó vẫn chỉ là tính toán và suy tính, chứ chưa được kiểm chứng và thi hành, tức là chưa có kết quả rõ ràng. Chính vì thế, khi Đậu thái hoàng thái hậu phản đối, thì cũng khó có thể đưa ra lý lẽ để thuyết phục một cách triệt để.
Và thái hoàng thái hậu cũng có lý của bà. Vì chính sách vô vi nhi trị đã giúp nhà Hán hồi phục và phát triển mạnh. Đột nhiên cháu mình là Hán Vũ đế muốn bỏ chính sách này, thì ai mà biết được nó sẽ dẫn đến kết quả như thế nào.
