Tập 88: Đổng Trọng Thư, vị đại Nho với tài đức siêu việt

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 26/10/2025

Vào thời Hán Vũ đế mới lên ngôi, thế lực ngoại thích rất mạnh mẽ. Hán Vũ đế muốn đưa ra cải cách lớn là “bãi bỏ bách gia, độc tôn nho thuật”, nhưng bị Thái hoàng thái hậu ngăn cản. Mặc dù là hoàng đế, nhưng ông cũng không thể làm gì.

Nhưng dù sao thì Đậu Thái hoàng thái hậu cũng không thể sống mãi ngàn năm. Bà mất vào ngày 26 tháng 5 năm 135 TCN, tức năm thứ sáu sau khi Hán Vũ Đế lên ngôi. Từ đó, Hán Vũ Đế mới thật sự có cơ hội thực hiện lý tưởng chính trị của riêng mình. Nhưng kỳ lạ là, Đổng Trọng Thư đã đưa ra nhiều chính sách rất hay, nhưng ông vẫn không được Hán Vũ Đế trọng dụng.

Trong triều Tây Hán, nhiều nhà tư tưởng đều không được dùng hoặc không có kết cục tốt đẹp, như là Giả Nghị, Triệu Sở hay là Đổng Trọng Thư. Khi Đổng Trọng Thư dâng bản “Thiên nhân tam sách”, thì Đậu Thái hoàng thái hậu vẫn còn sống, nên tự nhiên những chủ trương của ông dù hay, nhưng không có cơ hội thực thi. Hán Vũ Đế chỉ sai Đổng Trọng Thư làm chức tướng quốc ở nước Giang Đô. Đây vốn là phần đất cũ của nước Ngô, quốc vương Giang Đô là Lưu Phi – là anh trai của Hán Vũ Đế, người này tính kiêu ngạo, ưa chuộng sức mạnh. Nhưng Đổng Trọng Thư đã lấy lễ nghĩa để cảm hóa, khiến Lưu Phi rất kính trọng ông.

Có lần, Lưu Phi hỏi Đổng Trọng Thư rằng:

“Xưa kia Việt Vương Câu Tiễn cùng Văn Chủng, Phạm Lãi, họ đã diệt nước Ngô. Khổng Tử từng nói nhà Ân có ba bậc nhân, thì người phò tá Câu Tiễn ấy cũng đều là người nhân phải không? Xưa, Tề Hoàn Công mỗi khi nghi ngờ đều hỏi Quản Trọng. Nay quả nhân cũng muốn khi có điều do dự thì thỉnh giáo khanh.”

Câu nói này của Lưu Phi thực ra là ẩn ý: ông mong muốn mình có thể làm bá chủ như Tề Hoàn Công, thậm chí hy vọng Đổng Trọng Thư sẽ như Văn Chủng mà phò tá ông. Còn việc “Văn Chủng diệt Ngô” thì ngầm chỉ rằng Lưu Phi cũng nuôi mộng muốn diệt ai đó, nhưng lại không nói thẳng ra. Rõ ràng có thể thấy tham vọng của Lưu Phi.

Đổng Trọng Thư đáp lại rất khéo. Trước tiên ông khiêm nhường nói:

“Thần vốn ngu độn, e khó có thể trả lời việc trọng đại như thế. Nhưng xin kể một câu chuyện.

Thời Xuân Thu, ở nước Lỗ có một nho sinh tên là Liễu Hạ Huệ, nổi tiếng với câu thành ngữ ‘tọa hoài bất loạn’, là người phẩm đức rất cao. Có lần quân chủ nước Lỗ hỏi Liễu Hạ Huệ rằng: ‘Trẫm muốn đem quân đánh Tề, khanh thấy thế nào?’ Liễu Hạ Huệ dĩ nhiên đã phản đối, rồi hết lời khuyên can quân chủ từ bỏ ý định dùng binh. 

Sau khi lui về, Liễu Hạ Huệ mang tâm sự buồn bã. Ông nói: ‘Việc động binh đao, vốn không nên hỏi đến bậc nhân giả, bởi người giữ lòng nhân, chắc chắn sẽ phản đối chiến tranh. Thế mà quân chủ lại đem việc này hỏi ta, lẽ nào là vì đức hạnh của ta còn có chỗ khả nghi chăng?’”

Ý của Đổng Trọng Thư rất rõ ràng, ông muốn nói với Lưu Phi rằng: Người Nhân, mang tâm thiện lành, chắc chắn sẽ phản đối chiến tranh. Đổng Trọng Thư mượn lối tự phê để khéo léo ám chỉ với Lưu Phi rằng: “Ngài chớ có vọng tưởng, tôi không phải là Quản Trọng, còn ngài cũng đừng mong làm Tề Hoàn Công.”

Thế là ông ở bên cạnh Lưu Phi, liên tục dùng đạo đức và lễ nghi để ràng buộc, cảm hóa. Cuối cùng, Lưu Phi cũng dần từ bỏ được dã tâm của bản thân, và có được một kết cục yên ổn, không làm điều gì vượt quá khuôn phép, và như vậy nhiệm vụ của Đổng Trọng Thư xem như đã hoàn thành tốt đẹp.

Sau sáu năm làm tướng quốc ở Giang Đô, khi Đậu Thái hoàng thái hậu qua đời, Đổng Trọng Thư trở về triều đình trung ương. Theo lẽ, đây đáng ra là lúc ông có cơ hội ra làm quan lớn. Nhưng không, ông lại gặp phải hai kẻ tiểu nhân: một là Chủ phụ Yển, hai là Công Tôn Hoằng. Cả hai đều là những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử, đặc biệt là Chủ phụ Yển.

Học vấn của Đổng Trọng Thư chủ yếu là “Xuân Thu” theo phái Công Dương. Trong Nho học, cũng có nhiều lưu phái, nhưng ảnh hưởng lớn nhất thời ấy là Cốc Lương phái và Công Dương phái. Công Dương phái chú trọng đến “Đại nhất thống”. Không những thế, ngoài việc nghiên cứu Nho gia, Đổng Trọng Thư còn dung hợp thêm tư tưởng Âm Dương gia, xây dựng thành hệ thống lý luận của riêng mình, ông rất coi trọng các thuyết thiên nhân cảm ứng, âm dương điều hòa.

Theo Hán thư – Đổng Trọng Thư truyện, khi làm tướng quốc ở Giang Đô, ông từng chủ trì các việc như cầu mưa, dừng mưa. Nơi nào bị hạn hán lâu ngày, ông liền đến làm lễ cầu mưa, và thực sự có mưa thật. Nơi nào mưa quá nhiều, ông lại làm lễ cúng tế để dừng mưa, và mưa cũng dừng thật. Nói cách khác, cả hạn hán lẫn lũ lụt, ông đều có cách hóa giải. Điều này thật khó tin, nhưng cũng làm cho Lưu Phi bái phục.

Đổng Trọng Thư giải quyết bằng cách nào? Ông đã tùy theo tình thế: nếu dương khí quá thịnh, ông tìm cách ngăn bớt dương, tăng thêm âm, thế là mưa rơi xuống; ngược lại, nếu âm khí quá mạnh, ông chặn bớt âm, làm dương khí tăng, thế là mưa ngừng.

Vì vậy, Đổng Trọng Thư không chỉ là một nho sinh, mà còn được xem như có “siêu năng lực” có thể điều khiển thời tiết. Chính nhờ vậy mà ông có thể dễ dàng bàn luận về thuyết âm dương và thiên tai dị tượng. Mỗi khi có thiên tai xảy ra, ông thường chẩn đoán rằng trong chính trị của quốc gia đang tồn tại vấn đề gì đó.

Theo Hán thư – Ngũ hành chí, khi Đổng Trọng Thư vừa trở lại triều đình trung ương, trong tông miếu xảy ra một vụ hỏa hoạn. Dựa vào điềm tai dị này, ông viết một bản tấu, nội dung cho rằng: bên cạnh hoàng đế có kẻ tiểu nhân, cần phải trừ bỏ; việc Thượng Thiên dùng lửa thiêu miếu chính là lời cảnh tỉnh, thúc giục hoàng đế loại bỏ những kẻ xấu bên mình.

Nhưng bản tấu còn chưa viết xong thì Chủ phụ Yển đến nhà chơi, hắn đã nhìn thấy và lén lấy đi, rồi dâng cho Hán Vũ Đế. Hoàng đế xem xong thì nổi giận, lập tức ra lệnh cho quan pháp định tội. Kết quả bộ tư pháp định ra hình phạt là tội tru di. 

Tuy vậy, sau khi bình tĩnh lại, Hán Vũ Đế vẫn quý trọng tài năng của Đổng Trọng Thư, nên đã tha tội chết cho ông. Từ đó về sau, Đổng Trọng Thư không dám nhắc đến chuyện âm dương tai dị nữa, mà chỉ chuyên tâm dạy học.

Ngoài ra còn có một người ghen ghét Đổng Trọng Thư – đó là Công Tôn Hoằng. Đây là người đầu tiên trong lịch sử nhờ thi cử, nhờ văn chương mà lọt vào mắt hoàng đế, rồi được chọn làm quan đến chức Thừa tướng, được phong tước Bình Tân hầu.

Xuất thân của Công Tôn Hoằng vốn rất thấp hèn: ban đầu người này chỉ là một ngục tốt coi tù, sau lại phạm pháp, bị cách chức. Đến bốn mươi tuổi, ông vẫn phải nuôi heo để sống. Nhưng rồi không hiểu do lý do gì, mà ông bất ngờ nỗ lực học tập kinh điển Nho gia. 

Dù không ưa Đổng Trọng Thư, nhưng thực ra Công Tôn Hoằng cũng không phải là kẻ xấu, ông rất hiếu thuận với mẹ, sống cần kiệm. Sau này, khi Hán Vũ Đế ban chiếu ra đề sách vấn, Công Tôn Hoằng ứng đối rất xuất sắc, đứng đầu trong những người dự thi, và được Hán Vũ Đế chọn dùng, mở ra con đường tiến thân. Con đường quan lộ của Công Tôn Hoằng tuy khúc khuỷu, cuộc đời vất vả, nhưng khi thật sự thuận buồm xuôi gió thì ông đã hơn bảy mươi tuổi.

Khi hơn bốn mươi tuổi, Công Tôn Hoằng vẫn còn phải chăn heo, cho nên học vấn của ông dĩ nhiên không thể sánh với Đổng Trọng Thư – là người đọc sách từ nhỏ. Có lẽ vì vậy, Công Tôn Hoằng rất đố kỵ với Đổng Trọng Thư. Còn về phía Đổng Trọng Thư, ông cũng khinh thường Công Tôn Hoằng – không phải vì Công Tôn Hoằng dốt nát, mà bởi vì ông ta là kẻ “nịnh đời để cầu danh lợi”.

Công Tôn Hoằng rất giỏi trong việc kết giao quan hệ. Nếu ai đó làm hại ông, bề ngoài Công Tôn Hoằng vẫn làm ra vẻ điềm nhiên, rộng lượng, thậm chí còn tỏ ra thân mật, nhưng chỉ cần chộp được cơ hội, Công Tôn Hoằng sẽ bất ngờ cắn ngược một cú chí mạng, khiến đối phương gia bại nhân vong.

Có một giai thoại về Viên Cố Sinh – một học giả sống đến hơn chín mươi tuổi dưới thời Hán Vũ Đế. Khi gặp Công Tôn Hoằng (lúc ấy đã hơn bảy mươi), Viên Cố Sinh đã nhìn thấu con người này, và đã dạy bảo rằng: đừng có nịnh bợ, đừng có kết giao bừa bãi để cầu lợi. Vậy nên không chỉ Đổng Trọng Thư coi khinh Công Tôn Hoằng, mà Viên Cố Sinh cũng xem thường ông ta. Tức giận vì bị coi khinh, Công Tôn Hoằng đã nuôi ý báo thù Đổng Trọng Thư.

Ông ta báo thù bằng cách nào? 

Hán Cảnh Đế có một người con là Lưu Đoan, được phong làm Giao Tây Vương. Vị vương này đã làm nhiều điều xấu xa, ức hiếp dân chúng, lại thường kết bè đảng với kẻ tiểu nhân, tính tình hung bạo vô cùng. Công Tôn Hoằng liền tâu với Hán Vũ Đế rằng:

“Giao Tây Vương là kẻ kiêu căng bất pháp, không ai trị nổi. Chỉ có Đổng Trọng Thư – bậc đại nho thánh nhân – mới có thể cảm hóa được ông ta. Xin hãy bổ nhiệm Đổng Trọng Thư làm tướng quốc ở Giao Tây.”

Thực ra, đây là âm mưu muốn đưa Đổng Trọng Thư vào chỗ chết. Vì ở Giao Tây, bất kỳ tướng quốc nào cũng khó toàn mạng: nếu phạm pháp thì Giao Tây Vương sẽ dâng sớ tố cáo, bị bãi chức; còn nếu ngay thẳng không phạm pháp, thì sẽ bị Giao Tây Vương đầu độc. Ít nhất đã có hơn mười vị đại thần quan cấp bậc cao chết dưới tay ông ta.

Thế nhưng, ngoài dự liệu của Công Tôn Hoằng, Đổng Trọng Thư quả thật là bậc đại nho. Sau khi tới Giao Tây, ông đã khiến Lưu Đoan sinh lòng kính trọng. Cuối cùng, Đổng Trọng Thư không những không chết, mà còn bình yên rời khỏi Giao Tây quốc.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tần Hoàng Hán Vũ

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>