Tập 90: Đậu Anh – Ngụy Kỳ hầu với tính tình Cương trực

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 26/10/2025

Năm 135 trước Công nguyên, Đậu Thái hoàng thái hậu qua đời. Đây chính là cơ hội để Hán Vũ Đế thật sự nắm trọn quyền lực. Ông dùng “Thôi ân lệnh” để giải quyết mối đe dọa từ các chư hầu đối với triều đình trung ương. Từ đó, chấm dứt cục diện chính trị “phong vương xen lẫn quận huyện” hình thành từ đầu thời Hán, vốn từng dẫn đến loạn bảy nước Ngô – Sở. Thời đại “Đại nhất thống” rốt cuộc đã mở ra.

Sau khi Đậu Thái hoàng thái hậu băng hà không lâu, người đường chú của bà là Đậu Anh bị cuốn vào một vụ án oan. Vụ này liên quan đến hai nhân vật: Ngụy Kỳ hầu Đậu Anh và Vũ An hầu Điền Phần. Trong Sử ký có chép chung tiểu truyện cho hai người, gọi là Ngụy Kỳ Vũ An hầu liệt truyện. Cả hai đều thuộc ngoại thích, tức là dòng tộc bên họ mẹ của Hoàng đế. Đậu Anh từng giữ chức Đại tướng quân và Thừa tướng, còn Điền Phần là em cùng mẹ khác cha của Vương Thái hậu – là mẹ của Hán Vũ Đế. Mối quan hệ giữa họ vô cùng rắc rối, oán thù dây dưa chằng chịt.

Đậu Anh vốn có nhược điểm về tính cách: ông quá mức cương trực. Trước kia, Đậu Thái hoàng thái hậu từng muốn lập Lương Vương làm Thái tử kế vị Cảnh Đế, nhưng Đậu Anh đã kịch liệt phản đối, chẳng hề nể mặt bà. Thái hậu tức giận, liền hủy bỏ tư cách “môn tịch” của Đậu Anh – tức là đã tước quyền ra vào nội cung. Từ đó, Đậu Anh mượn cớ mang bệnh, không chịu đi lên triều nữa.

Về sau, khi loạn bảy nước bùng nổ, Hán Cảnh Đế xem xét trong tông thất, chỉ có Đậu Anh là người có năng lực hơn cả, bèn thân chinh đến mời ông ra giúp nước. Nhưng Đậu Anh vẫn không nể mặt Hoàng đế, và đã viện cớ sức khỏe yếu, rồi hết sức từ chối. Thái hoàng thái hậu biết Đậu Anh vẫn giận mình nên cũng lấy làm hổ thẹn. Hán Cảnh Đế phải cố gắng thuyết phục Đậu Anh rằng: “Giang sơn nhà Hán đang nguy nan, ông là người trong nhà, còn thoái thác điều gì nữa?”

Đậu Anh lúc này mới thấy nguy cơ cận kề, ông đã bỏ đi cơn giận cá nhân, mà lấy đại cục làm trọng. Ông đồng ý với Hán Cảnh Đế, rồi được phong làm Đại tướng quân, ban thưởng nghìn cân vàng. Đậu Anh tiến cử Viên Áng, Loan Bố cùng nhiều người tài khác, để họ góp sức phò tá quốc gia trong buổi loạn lạc. Tính tình của Đậu Anh rất hào phóng: vàng được vua ban thì ông đều để cả ngoài hành lang, lính tráng đi ngang thì ông cho tùy ý lấy theo nhu cầu.

Điều này cho thấy ông không phải kẻ tham tài, nhưng cũng lộ rõ nhược điểm: ông quá coi trọng thanh danh và hình ảnh của mình trong mắt người khác. Bởi lẽ, đãi thưởng binh sĩ thì phải có tiêu chuẩn, phải có công lao thì mới được thưởng. Thế nhưng Đậu Anh lại để vàng ở ngoài hành lang, ai muốn lấy thì cứ lấy, tuy người được lợi tất nhiên sẽ mang ơn ông, nhưng công bằng ở chỗ nào? Chính vì thế, xét từ phương diện chính trị, Đậu Anh chưa phải là một chính khách thật sự chín chắn.

Sau khi dẹp yên loạn Thất quốc, Đậu Anh được phong làm Đại tướng quân, tước Ngụy Kỳ hầu, địa vị vẫn rất hiển hách. Thế nhưng Hán Cảnh Đế không bao giờ cho ông giữ chức Thừa tướng. Hán Cảnh Đế từng đánh giá: “Ngụy Kỳ hầu tâm tính thất thường, kiêu căng tự mãn, làm việc khinh suất nông nổi, dễ đắc ý mà khó gánh vác trọng trách.” Chính vì vậy, mãi đến đời Hán Vũ Đế lên ngôi, Đậu Anh mới được phong làm Thừa tướng. Nhưng ông ngồi chưa ấm ghế thì đã bị bãi chức, vì ông sùng Nho thuật, còn Thái hoàng thái hậu lại ưa Đạo học. Hai bên bất đồng, kết cục là Đậu Anh lại bị cách chức. Lần này cùng bị bãi chức với ông còn có Điền Phần.

Điền Phần vốn là em cùng mẹ khác cha của Vương Thái hậu – là mẹ Hán Vũ Đế. Như đã kể ở những tập trước, mẹ của Vương Thái hậu là Tang Nhi, bà đã hai lần xuất giá: lần đầu tiên bà được gả cho Vương Trọng, sinh ra Vương Thái hậu; lần sau thì lấy một người họ Điền, sinh ra Điền Phần và Điền Thắng. Bởi vậy, Điền Phần chính là cậu ruột của Hán Vũ Đế. Máu mủ ruột rà, nên dù đã bị bãi chức, ông vẫn thường được ra vào triều kiến, đưa lời bàn bạc với hoàng đế.

Trái lại, Đậu Anh chỉ là đường cháu của Đậu Thái hoàng thái hậu, lại vốn chẳng được bà ưa, nên sau khi bị bãi chức, những kẻ trước kia từng nịnh bợ, dần dần đã rời bỏ ông mà quay sang xu nịnh Điền Phần. Đến khi Thái hoàng thái hậu qua đời, Điền Phần được phong làm Thừa tướng, quyền thế nghiêng trời, trở thành nhân vật được người người săn đón.

Thuở trước, khi Đậu Anh ở vào thời kỳ rực rỡ nhất, được phong Ngụy Kỳ hầu, kiêm chức Thừa tướng lẫn Đại tướng quân, thì lúc ấy Điền Phần chỉ là một viên lang quan – là một chức quan rất thấp. Bởi vậy, Điền Phần đối với Đậu Anh hết sức kính trọng, cung kính chẳng khác gì con trai đối đãi với cha. Nhưng nay thế cục đảo ngược: Điền Phần đã vươn lên quyền thế hiển hách, còn địa vị của Đậu Anh thì xuống dốc thảm hại, cửa trước vắng vẻ, ngựa xe thưa thớt. Trong lòng Đậu Anh vì thế mà nảy sinh nỗi hụt hẫng vô cùng lớn.

Giữa lúc ấy, chỉ có một người vẫn không rời bỏ Đậu Anh, đó là Quán Phu. Cha ông vốn họ Trương, tên Mạnh, chứ không phải họ Quán. Trương Mạnh nguyên là thuộc hạ của tướng quân Quán Anh. Quán Anh là đại công thần thời Hán Cao Tổ Lưu Bang. Thuở ban đầu Lưu Bang dựng cờ khởi nghĩa, quân chủ lực đều là bộ binh. Thấy kỵ binh của Hạng Vũ vô cùng lợi hại, Lưu Bang bèn sai Hàn Tín cùng Quán Anh huấn luyện kỵ binh. Quán Anh làm phó tướng cho Hàn Tín, nhưng về sau Hàn Tín bị giáng làm Hoài Âm hầu, nên trong sử sách mới đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Quán Anh như vị tổng chỉ huy kỵ binh. Nhờ thế, Quán Anh trở thành một trong những công thần trọng yếu giúp Hán Cao Tổ dựng nghiệp.

Khi dẹp loạn bảy nước Ngô – Sở, Quán Anh đem Trương Mạnh theo quân đi đánh dẹp. Trong chiến sự, Trương Mạnh tử trận. Vì Trương Mạnh vốn được Quán Anh rất quý trọng, lại là môn khách thân cận, nên sau này người ta đổi tên ông thành Quán Mạnh để ghi nhớ tình nghĩa thầy trò. Con trai Quán Mạnh chính là Quán Phu.

Quán Phu vì để báo thù cho cha, đã từng xông vào đại doanh của quân Ngô. Lúc đó, binh lực nước Ngô cực kỳ hùng mạnh, chỉ trong một trận ở đất Cức Bích đã giết hàng vạn quân của nước Lương. Quán Phu dẫu biết nguy hiểm, nhưng vẫn quyết chí lao thẳng vào trại doanh quân Ngô. Ông tự mình chiêu mộ hơn mười dũng sĩ, lập thành một đội cảm tử quân, quyết chiến với quân Ngô. Kết cục là, chỉ hai người sống sót trở về, trong đó có ông. Quán Phu trọng thương đầy mình, nhưng đã xông ra khỏi vòng vây và may mắn thoát chết. Từ đó, tên tuổi ông vang dội khắp ba quân như một biểu tượng của lòng dũng cảm và sự mạnh mẽ.

Quán Phu vốn khinh miệt bọn quyền quý, nhưng lại đối xử rất nhã nhặn với những người có địa vị thấp hơn mình. Khi Đậu Anh mất chức, những kẻ xu nịnh trước kia đã rời bỏ hết, chẳng ai quan tâm tới ông ta nữa. Thế nhưng, Quán Phu vẫn thường xuyên đến thăm, như một sự thủy chung không đổi. Điều đó trở thành niềm an ủi lớn lao cho Đậu Anh. Còn về phần Quán Phu, ông cũng thấy Đậu Anh vốn là ngoại thích, nhưng cũng rất có tài, đã từng được phong hầu, từng hiển hách một thời, nên được kết giao với Đậu Anh cũng là điều vẻ vang. Ông coi Đậu Anh chẳng khác gì cha mình.

Nhưng con người như Quán Phu, kỳ thực không thể coi là bạn bè lâu dài được. Vì nói theo ngôn ngữ ngày nay, Quán Phu chính là một tay anh chị xã hội đen. Nhà ông ở Ứng Xuyên, tức là thành phố Hứa Xương, tỉnh Hà Nam ngày nay. Ông nuôi dưỡng môn khách, nhưng lại toàn là những hạng hào cường gian ác. Sử ký ghi chép rằng toàn “hào kiệt đại hoạt” tụ hội trong nhà ông. Nhà Quán Phu lại rất giàu, mỗi ngày có đến vài chục, thậm chí hàng trăm kẻ ăn nhậu bám vào. Tiền của ấy lấy từ đâu mà ra? Chính là nhờ bóc lột dân lành, tung hoành làm bao điều trái phép ở Ứng Xuyên.

Người dân địa phương còn truyền nhau một bài đồng dao chua chát rằng:

“Ứng thủy trong, họ Quán yên;
Ứng thủy đục, họ Quán tuyệt.”

Ý rằng khi dòng sông Ứng còn trong vắt thì nhà họ Quán còn an ổn, một khi nước sông vẩn đục, thì nhà họ Quán ắt sẽ diệt vong. Thực chất, đó chính là lời nguyền rủa của người dân đối với Quán Phu.

Dưới thời Văn Đế, Cảnh Đế, do chính sách trọng hòa bình, “dĩ hòa vi quý”, nên những tay thổ hào bá đạo kiểu ấy vẫn có thể dung thân. Nhưng đến đời Hán Vũ Đế, thì chính những thế lực hào cường địa phương ấy trở thành mối họa đe dọa đối với quyền lực tập trung của triều đình, và cũng là đối tượng nhất thiết phải trừ khử. Vì thế, việc Quán Phu gặp họa chỉ là chuyện sớm muộn.

Lại thêm một nhược điểm khác: Quán Phu tính khí cực kỳ nóng nảy, dễ làm mất lòng người khác, mà lại chuyên làm mất lòng bọn quyền quý. Những kẻ kết giao với Quán Phu, chắc chắn sớm muộn gì cũng chuốc họa vào thân.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tần Hoàng Hán Vũ

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>