Tập 89: Chủ Phụ Yển đề xuất Thôi Ân Lệnh, giảm quyền lực của các nước chư hầu

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 26/10/2025

Đổng Trọng Thư là người rất có tài, nhưng lại không có cơ hội thi thố tài năng bên cạnh Hán Vũ Đế, trong khi đó những người mang danh nghĩa Nho sinh như Công Tôn Hoằng và Chủ Phụ Yển lại được trọng dụng. Công Tôn Hoằng đã tâu xin Hán Vũ Đế lập ra chế độ “bác sĩ đệ tử”, cho phép học trò Nho gia có thể dự các kỳ khảo thí hằng năm để ra làm quan. Từ đó, con em Nho học trở thành lực lượng quan lại chủ yếu trong bộ máy chính quyền. 

Muốn tăng cường quyền lực trung ương, tất yếu phải củng cố quyền lực hoàng đế. Mà muốn hoàng quyền vững mạnh, thì phải giảm bớt uy hiếp từ các nước chư hầu. Không lâu sau khi Đậu Thái hoàng thái hậu qua đời, Chủ Phụ Yển đã tìm cách tiếp cận Hán Vũ Đế. Ông vốn là người đất Tề. Theo sử chép, đây là một kẻ khiến người ta cực kỳ chán ghét. Tư Mã Thiên là người cùng thời, cũng chẳng hề viết lời nào hay ho về kẻ này.

Chủ Phụ Yển quê ở Lâm Tri, đất Tề (tức Tề Nam nay thuộc Truy Bác, Sơn Đông). Ban đầu ông học chiến lược ngoại giao kiểu Tung hoành gia, sau lại chuyển sang Nho học. Tuy nhiên, vì tính tình khó ưa, giao du kém cỏi, chẳng có Nho sinh nào ưa thích ông. Ở đất Tề không sống nổi, Chủ Phụ Yển lang bạt sang Yên, Triệu, Trung Sơn…, nhưng cũng chẳng ai đoái hoài.

Năm 134 TCN, Chủ Phụ Yển tìm đến Vệ Thanh. Vệ Thanh nhiều lần tiến cử ông với Hán Vũ Đế, nhưng hoàng đế vẫn không trọng dụng. Về sau, ông lâm vào cảnh khốn quẫn, không có tiền, lại cứ bám riết không chịu đi, khiến các khách chư hầu đều khó chịu. Cuối cùng, Chủ Phụ Yển liều mình viết thư trực tiếp gửi lên Hán Vũ Đế. Không ngờ, thời vận xoay chuyển: buổi sáng dâng thư, thì đến tối ông đã được triệu kiến.

Chủ Phụ Yển đã dâng lên Hán Vũ Đế một chủ trương vô cùng quan trọng, gọi là “Thôi Ân lệnh”

Chúng ta biết rằng, thời Hán Văn Đế, Giả Nghị từng đưa ra một kiến nghị là: khi một nước chư hầu quá lớn mạnh thì không ổn, tốt nhất nên chia nhỏ ra thành nhiều nước hơn, để mỗi nước đều yếu đi, từ đó giảm bớt uy hiếp với triều đình trung ương. Sách lược của Giả Nghị rất là đúng đắn. Nhưng khi Triệu Sở áp dụng thì lại dùng biện pháp quá cực đoan là: trực tiếp chia cắt lãnh thổ của các chư hầu lớn, kết quả dẫn đến loạn Bảy nước Ngô Sở.

Chủ Phụ Yển thì tâu với Hán Vũ Đế rằng: thời Xuân Thu – Chiến Quốc, một nước chư hầu chỉ có đất đai trăm dặm, dễ dàng khống chế. Còn nay, chư hầu vương quốc đã có đất rộng nghìn dặm, hàng chục thành trì, thế lực quá mạnh, đã trở thành mối đe dọa lớn đối với chính quyền trung ương. 

Trước kia, các nước chư hầu chỉ có trưởng nam – con trai của vợ cả – được được quyền kế thừa ngôi vương. Nay xin bệ hạ ban lệnh “thôi ân” – tức là ban ân điển ấy cho tất cả các con trai của chư hầu vương, để mỗi người con đều có thể lĩnh một phần đất. Vì các vương hầu thường có rất nhiều con trai, nên chỉ sau một thế hệ, quốc thổ của họ sẽ bị chia vụn, nhỏ dần.

Ví dụ như trong Tam Quốc diễn nghĩa, Lưu Bị từng tự xưng là “hậu duệ Trung Sơn Tĩnh Vương, huyền tôn của Hiếu Cảnh hoàng đế”. Trung Sơn Tĩnh Vương tên là Lưu Thắng, là con trai của Hán Cảnh Đế. Nếu tra Hán thư – Cảnh thập tam vương truyện, sẽ thấy Lưu Thắng sinh đến 120 người con trai. Nếu áp dụng “Thôi Ân lệnh”, thì vương quốc ấy chia ra cho 120 người, mỗi phần đất sẽ chỉ bé như một huyện, thậm chí còn nhỏ hơn. Đến mức ấy thì quyền lực của họ sẽ phải nằm dưới sự khống chế của quan huyện lệnh và quận thú. Như vậy, vấn đề chư hầu sẽ được giải quyết một cách hòa bình. 

Bởi thế, “Thôi Ân lệnh” được coi là một sách lược hay của Chủ Phụ Yển nhằm tăng cường quyền lực tập trung của triều đình.

Nhưng chuyện đó vẫn chưa dừng lại. Thời nhà Hán, cứ đến tháng Giêng thì bắt đầu ủ rượu, đến tháng Tám thì rượu thành. Sau đó, loại rượu này được dùng để tiến cúng tổ tiên trong tông miếu hoàng gia. Các chư hầu vương quốc cũng phải nộp vàng cho triều đình để góp vào việc tế lễ, gọi là “trửu kim”. Quy định là mỗi một ngàn khẩu dân thì nộp bốn lạng vàng, do Thiếu phủ thu nhận.

Hán Vũ Đế lại vin vào cớ vàng nộp không đủ trọng lượng, hoặc không đạt chất lượng, mà bãi bỏ tước phong của rất nhiều chư hầu. Có hơn trăm người bị mất chức.

Trong Tam Quốc diễn nghĩa, ngay hồi thứ nhất khi giới thiệu về Lưu Bị cũng có nhắc rằng: “Xưa con trai của Lưu Thắng là Lưu Trinh, được phong làm Trác Lộc đình hầu vào thời Hán Vũ, sau vì vụ trửu kim mà mất tước, từ đó con cháu phải sống ở huyện Trác.” 

Có lẽ chính vì thế, Lưu Bị từ một người con trai của hầu tước, đã phải trở thành thường dân, phải đi bán dép cỏ kiếm sống. 

Nhưng cũng nhờ chính sách đó của Hán Vũ đế, vấn đề phong quốc của chư hầu mới được giải quyết dứt điểm, cục diện “Đại nhất thống” mới chính thức thành hình.

Tác phẩm Thiên nhân tam sách của Đổng Trọng Thư đã cung cấp cho Hán Vũ Đế cơ sở lý luận để thống nhất tư tưởng. “Thôi Ân lệnh” của Chủ Phụ Yển đã quét sạch mối uy hiếp từ các chư hầu trong nước. Nhưng để tăng cường hoàng quyền, Hán Vũ Đế vẫn phải tiếp tục giải quyết thế lực cát cứ của hào tộc và du hiệp ở địa phương, cũng như sự kiềm chế của quần thần đối với mình.

Vậy Hán Vũ Đế đã làm gì? Chúng tôi sẽ kể tiếp trong tập sau.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Tần Hoàng Hán Vũ

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>