Xuân thu Chiến quốc (49) Biến pháp Thương Ưởng giúp nước Tần giàu mạnh

Tác giả: Thiên Phong | Cập nhật: 08/05/2024
Danh mục: Huyền Sử

Vệ Ưởng thông qua một hoạn quan trong cung để diện kiến Tần Hiếu công bốn lần. Ba lần đầu, ông nói về đạo của bậc Đế – Vương – Bá, nhưng Tần Hiếu công không mấy quan tâm, đến lần thứ tư thì nói thuyết về cách để “nước giàu binh mạnh”, thì ông đã được sự chú ý của Tần vương. Vệ Ưởng đề xuất về “canh” và “chiến”, tăng cường khai khẩn ruộng đất, lấy công trạng để thưởng tước vị, thay đổi chế độ hộ tịch, định ra hình pháp nghiêm khắc, thay đổi pháp luật nước Tần… Tất cả những thay đổi đó đều có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của một số đoàn thể, đồng thời đã phân phối lại cán cân chính trị – kinh tế trong nước Tần, do đó, khó nạn trùng trùng. Vệ Ưởng đã làm cách nào để thi hành chủ trương chính sách của mình?

Tần Hiếu công phong Vệ Ưởng làm Tả thứ trưởng. Trong 20 cấp tước vị ở nước Tần thì đây là cấp thứ 10, tương đương với quan võ bậc trung. Vệ Ưởng muốn tiến hành biến pháp, cải cách chính trị, thì đầu tiên phải trình lên Tần Hiếu công, nếu Tần Hiếu công không đồng ý thì pháp luật nào cũng không được thi hành. Tiếp đó, sau khi Vệ Ưởng đề xuất biến pháp, ông còn phải biện luận với hai vị Đại phu là Cam Long và Đỗ Chí, cùng biện luận ngay trước mặt Tần Hiếu công.

Trong lúc biện luận, Vệ Ưởng đã đưa ra một luận điểm rất quan trọng, ông nói rằng: “Trị quốc không nhất định phải đi theo một con đường, nếu có lợi cho nước thì cần phải theo cách cũ. Năm xưa, vua Thành Thang, Chu Võ Vương, vì không tuân theo lễ nghi cũ mà được làm vương; còn vua Kiệt nhà Hạ và vua Trụ nhà Thương Ân, vì không thay đổi lễ nghi nên mới vong quốc. Do đó, không thể quở trách người thay đổi lễ nghi, cũng không thể tán thưởng người tuân theo lễ nghi xưa cũ”. 

Tần Hiếu công nghe xong thì nói: “Khanh nói có đạo lý”, thế là ông quyết định làm theo cách mà Vệ Ưởng đề xuất.

Tuy nhiên, ở đây Vệ Ưởng đã đánh tráo khái niệm về “Lễ”. “Lễ” của ba triều Hạ, Thương, Chu xác thực là khác nhau. Chúng ta biết rằng “lễ” chỉ là một dạng hình thức bên ngoài, nhưng nội hàm đạo đức bên trong của “lễ” là bất biến. Tùy theo sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, mà biểu hiện của “lễ” có chỗ thay đổi, đây là điều tự nhiên, nhưng nội hàm trong đó là không thay đổi.

Vua Kiệt nhà Hạ và vua Trụ nhà Thương – Ân, không thay đổi lễ nghi thời họ cai trị, nhưng vì đạo đức hai vị vua này băng hoại nên mới khiến đất nước diệt vong. Do đó, Vệ Ưởng đã nắm chắc bề ngoài của “lễ” mà bỏ đi nội hàm thực chất của đạo đức. Vệ Ưởng đã dùng cách đánh tráo khái niệm để thuyết phục Tần Hiếu công.

Sau khi thuyết phục Tần Hiếu công, Vệ Ưởng bắt đầu thay đổi luật pháp, tức là biến pháp. Tuy rằng ông đạt được sự đồng ý của quân vương, nhưng lại đối mặt với sự phản đối từ hai phía, một là từ bách tính, hai là từ quý tộc nước Tần. Vậy Vệ Ưởng đã làm cách gì để đối phó với sự phản đối của bách tính? Ông đã làm ba việc: Chuyển cây để xác lập chữ tín, dùng hình phạt với những ai chống đối, giết người để kiến lập oai nghiêm.

Vệ Ưởng sau khi lập ra pháp luật thì không công bố ngay lập tức. Trước tiên, ông làm một việc kỳ lạ. Ở cửa phía nam đô thành nước Tần, khi ấy là Lịch Dương, ông cho người cắm một cây gỗ và dán cáo thị viết rằng: “Ai có thể đem cây gỗ này từ cửa thành phía nam sang phía bắc, sẽ được thưởng 10 nén vàng”.

“Vàng” khi đó không phải là vàng như chúng ta nghĩ. Vào thời Chiến Quốc, ngay cả bạc cũng không được dùng làm tiền tệ, mà người ta đúc đồng làm tiền, cho nên, “vàng” trong trường hợp này chính là đồng. Việc luyện kim thời đó rất khó khăn, nên nói 10 nén “vàng”, tức là 10 cân đồng, là khoảng 5kg. 

Thời đó 10 nén vàng là một khoản tiền rất lớn. Nó lớn đến mức nào? Khi tra cứu trong “Hán thư – Thực hóa chí”, thì có thể ước lượng rằng số tiền đó đủ để nuôi năm người của một gia đình trong vài năm, chính là nhiều như thế. Chúng ta biết khi đó đô thành rất nhỏ, chu vi khoảng vài cây số, đi xuyên qua từ cổng này đến cổng khác bất quá chỉ là vài trăm mét. Vác cây gỗ từ cổng này qua cổng khác mà lại được thưởng nhiều đến như thế!

Sau khi cáo thị được dán ra, có rất nhiều người đến xem nhưng không có ai hành động. Một sự việc hết sức đơn giản mà sao lại được thưởng nhiều như thế? Mọi người cho đây là một việc khó tin. Vệ Ưởng nghe nói không có ai chuyển cây, ông đưa ra đề nghị mới: “Đổi 10 nén vàng thành 50 nén vàng”

Sau đó, có người đến chỗ cáo thị rồi nói: “Xưa nay nước Tần chưa bao giờ thưởng lớn thế này! Nhưng tôi cũng muốn thử một chút”. 

Người đó chuyển cây từ cổng Nam sang cổng Bắc. Lúc này, Vệ Ưởng đã chờ ở cổng Bắc, thấy cây gỗ được chuyển đến, ông mới nói với người đàn ông vác cây rằng: “Thật là một người dân tốt. Hãy thưởng cho anh ta 50 nén vàng”

Câu chuyện này đã khiến cả đô thành nước Tần náo động, vì số tiền được thưởng lúc đó quá lớn. 

Thông qua sự việc này, Vệ Ưởng muốn truyền đến bách tính một thông điệp rõ ràng: “Pháp luật là ta định ra, dù nó có hoang đường sai lầm thế nào, nhưng ta đã nói là làm”. Đây là việc thứ nhất, gọi là “chuyển cây lập tín”, thông qua việc chuyển cây mà xác lập sự tín nhiệm của người dân nước Tần đối với ông.

Sự việc thứ hai mà Vệ Ưởng làm là “khóa miệng người dân”. Sau khi pháp lệnh ban bố ra, có một số người đến gặp Vệ Ưởng rồi nói: “Luật lệ này không tốt, chỗ này không tốt, chỗ kia không tốt…”

Còn có một nhóm người nói với Vệ Ưởng rằng: “Luật lệ công bố ra thật quá tốt, chỗ này tốt thế này, chỗ kia tốt thế kia”. 

Vệ Ưởng nói: “Bất luận là người nào nói tốt hay nói xấu, đều bắt lại, cho sung quân biên ải”.

Vệ Ưởng gọi những người khen luật pháp tốt là loại “dân nịnh bợ”; còn những người nói là luật không tốt, thì là “dân ương ngạnh”, “ương ngạnh” mang ý là ngăn cản, tức là những người ngăn trở pháp lệnh. Dù là “dân nịnh nọt” hay “dân ương ngạnh”, Vệ Ưởng cho rằng họ đều không phải là công dân tốt.

Qua việc làm “khóa miệng người dân”, Vệ Ưởng muốn truyền tải một thông điệp: Công dân tốt là người tuân theo luật pháp, không cần nghĩ nhiều, không được có ý kiến, bắt buộc theo luật pháp mà làm.

Vệ Ưởng thông qua phương thức này để đoạt năng lực suy nghĩ và quyền tự do ngôn luận của người dân. Đây là sự việc thứ hai mà ông làm.

Sự việc thứ ba mà Vệ Ưởng làm là “giết người thị uy”. Vệ Ưởng từng ở bờ sông Vị thủy, ông lệnh cho thuộc hạ hành hình tù nhân, có một ngày hành hình hơn 700 người, nước sông Vị thủy thành màu đỏ, tiếng khóc ai oán khắp nơi. Trong “Tư trị thông giám” có viết như thế này: “Ban đầu Thương quân là tướng nước Tần, dùng pháp luật nghiêm khắc tàn khốc, từng giết tù nhân ven bờ sông Vị, nước sông đổi thành màu đỏ”. 

Kẻ mà Vệ Ưởng giết là hạng người như thế nào? Đó có thể là người phản đối dự luật mới. Vậy là Vệ Ưởng dùng “dời cây lập tín”, “khóa miệng người dân” và “giết người thị uy” để triệt tiêu đi sự bàn luận và phản kháng của người dân về chính sách mới. Thông qua ba việc ấy, cuối cùng Vệ Ưởng đã có thể thiết lập pháp lệnh lên dân chúng.

Nhưng biến pháp của ông gặp phải sự phản đối dữ dội từ quý tộc nước Tần, đặc biệt là sự chống đối từ các Thái tử. Ở đây ta thấy, bách tính bàn luận về pháp luật thì bị đày nơi  biên ải, vậy thì đối với Thái tử sẽ như thế nào? 

Trong “Tư trị thông giám” ghi lại rằng: “…thế là Thái tử phạm pháp, Vệ Ưởng nói: ‘Pháp luật không thể thi hành, là do người ở vị trí cao cản trở. Thái tử phạm tội, nhưng Thái tử là người sẽ kế thừa vương vị trong tương lai, cho nên không thể thi hành hình phạt. Mà sẽ phạt quan thái phó là Công tử Kiền, và thích chữ lên mặt quan Thái sư là Công Tôn Giả”. Thời ấy, quan Thái phó và quan Thái sư đều là thầy dạy học của Thái tử. 

Thông qua những việc làm đối với bách tính và thầy dạy của Thái tử, mọi người đều rất sợ Vệ Ưởng. Vệ Ưởng cũng xác lập được uy tín của mình. Tuy nhiên, ta thấy Vệ Ưởng là người rất tàn nhẫn, hơn nữa ông làm việc không để đường lui cho mình. 

Thái tử là người sẽ kế vị ngôi vua, tương lai sẽ làm quốc vương. Thái tử nếu ghét Vệ Ưởng, đợi đến khi Thái tử trở thành Tần vương, vậy thì Vệ Ưởng chẳng phải sẽ chết không có chỗ chôn hay sao? Nhưng Vệ Ưởng không suy nghĩ nhiều như vậy, cho nên ông mới kiên quyết làm theo ý mình. 

Khi biến pháp của Vệ Ưởng đưa ra sử dụng, thì lập tức khiến nước Tần biến thành nơi yên ắng đến độ “chim chóc cũng sợ mà không dám hót”. Vệ Ưởng bắt đầu thi hành pháp luật mới của mình, ông biến pháp tổng cộng hai lần. 

Đến năm 340 TCN, ông lấy lại Tây Hà từ nước Ngụy, sau đó ông được Tần Hiếu công phong cho đất Thương, khi đó người ta mới gọi ông Thương quân. Vì vốn dĩ ông ở nước Vệ, đến khi được phong cho đất Thương thì mới “lấy đất làm họ”, gọi là Thương quân. Lúc này đây, Vệ Ưởng mới được gọi là Thương Ưởng. Nhưng vì trong lịch sử mãi cứ ghi chép rằng “Thương Ưởng biến pháp”, “Thương Ưởng biến pháp”… cho nên ta cũng không chia ra giai đoạn nào gọi với tên gì. Chúng ta có thể nói là Vệ Ưởng, cũng có thể gọi là Thương Ưởng, bởi cả hai tên đều nói về cùng một người.

Thương Ưởng là nhân vật tiêu biểu của Pháp gia. Ảnh hưởng của Pháp gia rất lớn, chủ yếu thể hiện ở hai phương diện.

Phương diện thứ nhất, vì “Thương Ưởng biến pháp” nên tư tưởng Pháp gia mới giúp Tần quốc “nước mạnh binh cường”, cuối cùng thống nhất được Trung Nguyên. Cũng chính là nói, Pháp gia giúp nước Tần thực hiện việc thống nhất thiên hạ, kết thúc 500 năm thời kỳ Đông Chu liệt quốc cát cứ phân tranh và chiến loạn liên miên của các chư hầu. Đây là ảnh hưởng thứ nhất của Pháp gia.

Ảnh hưởng thứ hai chính là Pháp gia đã phế bỏ việc phân đất phong hầu. Pháp gia đã đổi chế độ “phong kiến” thời nhà Chu, thành chế độ chính trị “trung ương tập quyền”, hơn nữa chế độ “trung ương tập quyền” này đã kéo dài đến 2.000 năm sau. Đây là ảnh hưởng thứ hai của Pháp gia, đã thay đổi toàn bộ chế độ chính trị Trung Quốc, có thể nói là thay đổi hoàn toàn phương thức quản lý xã hội.

Thời Chiến Quốc, đấu tranh quân sự là điều khó tránh, nhiều khi phải dùng một số điều của Pháp gia. Nhưng đợi đến khi kết thúc chiến loạn, thì không thể lúc nào cũng khiến toàn dân ở trạng thái động viên chiến đấu. Đến lúc này thì nên dùng đạo lý của Nho gia để quản lý thiên hạ. Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất Trung Quốc, ông vẫn dùng những cách thức của Pháp gia. Nhà Tần là vương triều duy nhất thực hiện tư tưởng Pháp gia trị quốc triệt để nhất. Do đó, nhà Tần chỉ tồn tại 15 năm, cũng là vương triều tồn tại ngắn nhất trong lịch sử Trung Quốc, bởi vì nó không dùng đạo của quân vương được giảng trong Nho gia để trị quốc.

Quay lại với cải cách của Thương Ưởng, rốt cuộc ông có thể làm nước Tần hùng mạnh đến đâu, và số phận của ông sẽ như thế nào, chúng tôi sẽ kể tiếp câu chuyện trong tập tiếp theo, cảm ơn bạn đã theo dõi video này, xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại.


Có thể bạn quan tâm:

Bình luận

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}